Công chúa Madeleine, Nữ Công tước xứ Hälsingland và Gästrikland

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Công chúa Madeleine
Nữ Công tước xứ Hälsingland và Gästrikland
Princess Madeleine of Sweden 20 2013.jpg
Công chúa Madeleine trong ngày cưới của cô, 8 tháng 6 năm 2013
Thông tin chung
Phu quân Christopher O'Neill
Hậu duệ Công chúa Leonore, Nữ Công tước xứ Gotland
Tên đầy đủ Madeleine Thérèse Amelie Josephine
Tước hiệu HRH Nữ Công tước xứ Hälsingland và Gästrikland
HRH Công chúa Madeleine
Hoàng tộc Nhà Bernadotte
Thân phụ Vua Carl XVI Gustaf của Thụy Điển
Thân mẫu Hoàng hậu Silvia của Thụy Điển
Sinh 10 tháng 6, 1982 (35 tuổi)
Cung điện Drottningholm, Thụy Điển
Tôn giáo Giáo hội Thụy Điển

Công chúa Madeleine của Thụy Điển, Nữ Công tước xứ Hälsingland và Gästrikland (tên đầy đủ là Madeleine Thérèse Amelie Josephine;[1] sinh ngày 10 tháng 6 năm 1982), là con út và con gái thứ hai của Vua Carl XVI GustafHoàng hậu Silvia của Thụy Điển. Sau khi sinh, cô đứng thứ ba trong dòng kế vị ngai vàng Thụy Điển. Sau khi sự ra đời của cô cháu gái, Công chúa Estelle vào tháng 2 năm 2012, cô đã trở thành người kế vị thứ tư ngai vàng hoàng gia Thụy Điển.

Thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Công chúa Madeleine sinh ngày 10 tháng 6 năm 1982 lúc 19:05 giờ CEST[2] tại Cung điện DrottningholmStockholm và là một thành viên của gia đình Hoàng gia Thụy Điển thuộc nhà Bernadotte.[3]

Công chúa được rửa tội tại Cung điện Giáo hội Hoàng gia vào ngày 31 tháng 8 năm 1982. Cha mẹ đỡ đầu của cô là Hoàng tử Andreas của Saxe-Coburg và Gotha, ông ngoại cô Walther Sommerlath, công chúa Benedikte của Đan Mạch, và cô bên nội của cô công chúa Christina, Bà Magnuson.[3]

Công chúa là người thứ tư trong dòng kế vị ngai vàng Thụy Điển (sau chị gái - công chúa Victoria của Thụy Điển, cô cháu gái - công chúa Estelle, Nữ Công tước xứ Östergötland, và anh trai - Hoàng tử Carl Philip, Công tước xứ Värmland). Tên đệm thứ tư của cô, Josephine, được đặt theo tên của tổ mẫu của cô là Josephine xứ Leuchtenberg - cháu gái của Napoleon I và Hoàng hậu Joséphine là vợ của vị vua đầu tiên của Thụy Điển.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu Hoàng gia của
Công chúa Madeleine, Nữ Công tước xứ Hälsingland và Gästrikland

Madeleinearms.svg

Cách đề cập Her Royal Highness
Cách xưng hô Your Royal Highness
Cách thay thế Ma'am

Từ 1985-1989, Công chúa Madeleine bắt đầu nhập học ở trường mẫu giáo Västerled Parish. Mùa thu năm 1989, cô theo học tại trường tiểu học Smedslättsskolan ở Bromma. Lên trung học, Công chúa theo học tại trường trung học cơ sở Carlssons và trung học phổ thông Enskilda GymnasietStockholm. Cô tốt nghiệp trung học năm 2001.[4]

Mùa thu năm 2001, Công chúa chuyển sang sống ở Luân Đôn, Anh để tiện cho việc học tiếng Anh.[3] Mùa xuân năm 2002, cô đăng ký tham gia lớp học Giới thiệu về lịch sử Thụy Điển. Cũng trong năm này, công chúa còn tham gia khóa học để lấy bằng lái xe.[3] Tháng 1 năm 2003, Công chúa nộp đơn vào ngành Lịch sử mỹ thuật của trường Đại học Stockholm. Cô đã lấy 60 tín chỉ học thuật Thụy Điển chỉ trong vòng 2 học kỳ. Mùa thu năm 2004, Công chúa Madeleine bắt đầu khóa học về Dân tộc học cũng tại Đại học Stockholm. Cô có thể nói lưu loát tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Thụy Điển và đang học thêm tiếng Pháp. Cô tốt nghiệp Đại học ngày 23 tháng 1 năm 2006 với tấm Bằng Cử nhân Xã hội học ngành lịch sử nghệ thuật, dân tộc học và lịch sử hiện đại. Năm 2007, cô học thêm ngành Tâm lý trẻ em cũng tại Đại học Stockholm.

Công việc từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

Công chúa Madeleine là người bảo trợ của tổ chức từ thiện Min Stora Dag. CÔ đồng thời cũng là hội viên của các tổ chức khác như Europa Nostra, Carl Johan-LeagueCâu lạc bộ đua thuyền máy Hoàng gia.[5] Năm 2006, cô làm thực tập sinh 6 tháng cho UNICEFDịch vụ Bảo vệ Trẻ emthành phố New York, Mỹ.[4]

Nhiệm vụ Hoàng gia[sửa | sửa mã nguồn]

Công chúa Madeleine trao giải Göran Gustafsson Prize cho Johan Elf năm 2010

Công chúa Madeleine đã đảm nhận trọng trách đại diện cho vua cha và người dân Thụy Điển trong nhiều sự kiện trong nước và quốc tế. Cô đã từng đại diện Hoàng gia tham gia lễ chào mừng Quốc khánh Thụy Điển, sinh nhật của Đức VuaCông chúa điện hạ của Thụy Điển, lễ trao giải Nobel, dạ hội và nhiều buổi gặp mặt với các thành viên Hoàng gia khác trên thế giới.[6] Công chúa cũng từng đại diện cho Thụy Điển tham dự buổi lễ khánh thành Phòng tranh mới của Thụy Điển vào ngày 5 tháng 6 năm 2011 tại Bảo tàng Lịch sử Mỹ-Thụy ĐiểnPhiladelphia, Pennsylvania.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11 tháng 8 năm 2009, Công chúa Madeleine đã tuyên bố lễ đính hôn của mình với bạn trai quen từ năm 2002 - luật sư Jonas Bergström.[7][8] Công chúa đã nói trong buổi phỏng vấn rằng họ đã đính hôn với nhau vào đầu tháng 6 năm 2009 ở Capri. Một bữa tối đã được tổ chức vào ngày đính hôn ở Cung điện Solliden trên đảo Öland. Sau khi kết hôn, Bergström sẽ mang tước hiệu Công tước xứ Hälsingland và Gästrikland.

Lễ cưới lúc đầu được dự định sẽ tổ chức vào nửa cuối năm 2010 nhưng bị hoãn lại do phải chuẩn bị lễ cưới cho chị của cô, Công chúa Victoria vào tháng 6 năm 2010. Mặc kệ những tin đồn tan vỡ, Hoàng hậu Silvia vẫn tuyên bố rằng mối quan hệ của cặp đôi vẫn rất tốt và mọi thứ đều ổn.[9] Tuy nhiên, vào ngày 24 tháng 4 năm 2010, Hoàng gia Thụy Điển đã công bố rằng cặp đôi đã chia tay và lễ cưới của họ sẽ không bao giờ được diễn ra.[10]

Sau khi kết thúc mối tình với Bergström, Công chúa chuyển sang sống ở thành phố New York. Tại đây, cô làm việc cho Quỹ Nhi đồng Thế giới - tổ chức mà mẹ của cô là đồng sáng lập. Ngày 25 tháng 10 năm 2012, Hoàng gia Thụy Điển thông báo lễ đính hôn giữa cô và nhà tài chính Christopher O'Neill.[11]

Công chúa Madeleine và Christopher O'Neill trong lễ cưới

Ngày 23 tháng 12 năm 2012, gia đình Hoàng gia thông báo lễ cưới của Công chúa Madeleine và Christopher O'Neill sẽ được diễn ra vào ngày 8 tháng 6 năm 2013 tại Nhà thờ Cung điện Hoàng gia ở Stockholm, Thụy Điển.[12] Thành viên của nhiều gia đình Hoàng gia trên thế giới đã đến tham dự lễ cưới. Công chúa Madeleine xuất hiện lộng lẫy với chiếc váy cưới Haute couture của nhà thiết kế lừng danh Valentino.[13]

Con gái của họ, Công chúa Leonore, Nữ Công tước xứ Gotland đã chào đời ngày 20 tháng 2 năm 2014 tại thành phố New York.[14]

Danh tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2008, Công chúa đứng thứ 12 trong danh sách 20 thành viên Hoàng gia trẻ hấp dẫn nhất của tạp chí Forbes.[15]

Năm 2010, cô đứng thứ 3 trong danh sách 10 thành viên Hoàng gia trẻ hấp dẫn nhất của trang web PopCrunch.[16]

Năm 2011, Công chúa Madeleine đứng thứ 7 trong danh sách Thành viên Hoàng gia đẹp nhất từ trước đến nay của tạp chí BeautifulPeople.com. Cô cũng nằm trong danh sách Thành viên Hoàng gia nữ hấp dẫn nhất của tạp chí CEOWORLD.[17]

Tước vị và tước hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Ký hiệu của Công chúa Madeleine
Huy hiệu của Công chúa Madeleine
  • 10 tháng 6 năm 1982 - nay: Her Royal Highness Công chúa Madeleine của Thụy Điển, Nữ Công tước xứ Hälsingland và Gästrikland.

Tổ tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ (tiếng Thụy Điển)"H.K.H. Prinsessan Madeleine." Tiểu sử chính thức trên trang Kungahuset.se. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2012.
  2. ^ (tiếng Thụy Điển)Udo Sponberg udo.sponberg@gp.se (ngày 2 tháng 2 năm 2012). “Och så ska det gå till... - Sverige - Göteborgs-Posten”. Gp.se. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2014. 
  3. ^ a ă â b (tiếng Thụy Điển) Biografi
  4. ^ a ă (tiếng Anh)“Princess Madeleine profile: news, photos, style, videos and more â€" HELLO! Online”. Hellomagazine.com. Ngày 10 tháng 6 năm 1982. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2014. 
  5. ^ (tiếng Thụy Điển)“Beskyddarskap - Sveriges Kungahus”. Kungahuset.se. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2014. 
  6. ^ (tiếng Thụy Điển)“Engagemang - Sveriges Kungahus”. Kungahuset.se. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2014. 
  7. ^ (tiếng Thụy Điển)“Lễ đính hôn giữa Công chúa Madeleine và Jonas Bergström”. Hoàng gia Thụy Điển. Ngày 11 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2010. 
  8. ^ (tiếng Anh)“Công chúa Madeleine của Thụy Điển đính hôn”. Reuters. Ngày 11 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2010. 
  9. ^ (tiếng Thụy Điển)Sandberg, Mattias (ngày 13 tháng 4 năm 2010). “Silvia: Inget bröllop – i år”. Aftonbladet (bằng tiếng Thụy Điển). Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2010. 
  10. ^ (tiếng Thụy Điển)“Công chúa Madeleine chia tay với vị hôn phu”. The Local. Ngày 24 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2010. 
  11. ^ “Sound source”. Youtube.com. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2014. 
  12. ^ (tiếng Anh)“SWEDISH PRINCESS TO MARRY NEXT JUNE”. Associated Press. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2012. 
  13. ^ (tiếng Anh)“The Royal Couturier: Princess Madeleine's Wedding Gown!”. Theroyalcouturier.blogspot.com. Ngày 8 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2014. 
  14. ^ (tiếng Thụy Điển)“Announcement from the Marshal of the Realm - Sveriges Kungahus”. Kungahuset.se. Ngày 20 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2014. 
  15. ^ (tiếng Anh)Streib, Lauren (ngày 27 tháng 5 năm 2008). “The 20 Hottest Young Royals – 12. Princess Madeline”. Forbes. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2014. 
  16. ^ (tiếng Anh)Julian (ngày 29 tháng 4 năm 2010). “10 Hottest Young Royals of 2010”. PopCrunch. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2014. 
  17. ^ (tiếng Anh)“Thành viên Hoàng gia nữ hấp dẫn nhất”. CEOWORLD magazine. Ngày 15 tháng 5 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Công chúa Madeleine, Nữ Công tước xứ Hälsingland và Gästrikland
Sinh: 10 tháng 6, 1982
Kế vị
Tiền vị
Hoàng tử Carl Philip
Danh sách kế vị ngai vàng hoàng gia Thụy Điển
Vị trí thứ 4
Kế vị
Công chúa Leonore