Công chúa Thiên Thành

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thiên Thành công chúa
天城公主
Công chúa nhà Trần
Thông tin chung
Phu quân Trần Hưng Đạo
Hậu duệ
Thụy hiệu Nguyên Từ quốc mẫu (元慈國母)
Thân phụ Trần Thái Tổ (có sử sách công nhận)
Trần Thái Tông (?)
Thân mẫu ?
Sinh ?
Mất 28 tháng 9, 1288

Thiên Thành công chúa (chữ Hán: 天城公主, ? - 28 tháng 9, 1288), thường được gọi là Nguyên Từ quốc mẫu (元慈國母), là một công chúa nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Bà được biết đến rộng rãi với vai trò là phu nhân của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.

Trong cuộc Kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ 2 (1285) và lần 3 (1288), bà được các Hoàng đế nhà Trần giao cho quản lý, hướng dẫn các gia đình quý tộc lánh nạn và vận động nhân dân làm kế thanh dã (tức là ké vườn không nhà trống). Bà trực tiếp phụ trách hậu phương, khai phá đất đai, trồng nhiều cây lương thực và chăn nuôi gia súc, gia cầm, tập trung lương thực phục vụ quân doanh Vạn Kiếp[1].

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Cho đến nay, vẫn tồn tại hai luồn ý kiến về thân thế của bà, không rõ bà là con gái của Trần Thái Tổ Trần Thừa hay Trần Thái Tông Trần Cảnh.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, bà được gọi là Trưởng công chúa (長公主), trong đoạn ""Gả Thiên Thành Trưởng công chúa cho Trung Thành vương"[2]. Xét theo chế độ danh vị, danh hiệu này là để chỉ chị em gái của Đương kim Hoàng đế. Điều này có nghĩa là Thiên Thành Trưởng công chúa dĩ nhiên là con gái Thái thượng hoàng, tức Trần Thái Tổ và là em gái của Trần Thái Tông. Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục và một số nguồn[3], bà cũng được thừa nhận là con gái của Trần Thái Tổ.

Dẫu vậy, vẫn có ý kiến cho rằng Thiên Thành công chúa là con gái Trần Thái Tông, chủ yếu dựa vào hai cứ điểm:

  • Thứ nhất là dựa vào danh vị Trưởng công chúa, ý kiến này cho rằng cụm này ngầm ý bà là con gái lớn nhất của Trần Thái Tông. Trong ĐVSKTT, Ngô Sĩ Liên nói: "Vì Đế (Thái Tông) đã bất chính trong đạo vợ chồng, cho nên người làm tôi con cũng bắt chước"[4]. Cụm từ "tôi con" ở đây chắc chắn chỉ ra rằng Trần Hưng Đạo và Thiên Thành công chúa là phận "tôi con", suy ra Hưng Đạo vương và Thiên Thành công chúa phải vai vế bằng nhau mới có thể nói như vậy. Tuy nhiên, nguyên văn của "Tôi con", theo lý luận trên, chính là "Thần tử" (臣子), là danh phận cho bất cứ ai trong xã hội lúc bấy giờ, kể cả anh chị em, cho nên lý luận này không thể dùng để khẳng định công chúa là con của Trần Thái Tông.
  • Thứ hai, cũng dựa vào câu văn Con gái vua. Đây là câu của sử thần Ngô Sĩ Liên khi bàn về chuyện này, có đoạn: "Con gái vua lấy kẻ bề dưới tất phải sai chư hầu cùng họ đứng ra làm chủ hôn theo lễ phải thế" [5]. Lập luận này cho rằng, "Con gái vua" ở đây có thể chỉ Thiên Thành công chúa chính là con gái Trần Thái Tông, vì nếu là con gái Thái thượng hoàng Trần Thừa thì phải là "con gái thượng hoàng" cứ không phải "con gái vua". Tuy nhiên, câu này nguyên văn là "Vương cơ hạ giá tất sử đồng tính chư hầu chủ chi"[6], tức Ngô Sĩ Liên trích lại quy chế thời Chu, mượn ý con gái Thiên tử nói chung hạ giá như thế nào. Có thể nói Thiên Thành công chúa xét ra con gái của Thái thượng hoàng vẫn còn hợp lý, vì dẫu sao thì Thái thượng hoàng cũng là Hoàng đế, và Thiên Thành công chúa vô luận con gái người nào, danh chính ngôn thuận vẫn là Hoàng nữ, là con gái của Thiên tử nói chung.

Kết quả Thiên Thành công chúa là con gái của ai, vẫn hoàn toàn không cách nào khẳng định được với cứ liệu hiện tại. Nếu Thiên Thành công chúa là con gái Trần Thái Tổ, đối với người chồng Trần Hưng Đạo thì bà là cô ruột trong gia tộc. Nếu Thiên Thành công chúa là con gái của Trần Thái Tông, theo vai vế trong gia tộc thì bà là em họ của Trần Hưng Đạo.

Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Thái Tông ban đầu định gả bà cho Trung Thành vương (khuyết danh), con trai Nhân Đạo vương (khuyết danh) vào đầu năm Nguyên Phong thứ nhất (1251). Tuy nhiên, việc hôn nhân này không thành và bà lấy Trần Quốc Tuấn.

Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng:

Còn Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì viết:

Cuối cùng, theo Đại Việt sử ký toàn thư, mẹ nuôi của Trần Quốc Tuấn là Thụy Bà công chúa[7] đã phải dâng 10 mâm vàng sống để đền bù. Thái Tông cũng đành đem 2000 mẫu ruộng ở phủ Ứng Thiên [8] để đền sính vật cho Trung Thành vương.

Thờ phụng[sửa | sửa mã nguồn]

Thiên Thành công chúa qua đời vào ngày 28 tháng 9, năm 1288, trong khoảng thời gian Đại Việt giao tranh với quân đội nhà Nguyên vừa kết thúc, không rõ bao nhiêu tuổi. Nhà Trần thụy phong bà thành Nguyên Từ quốc mẫu (元慈國母), ngang với Linh Từ quốc mẫu lúc bấy giờ. Về sau, dân chúng lập đền thờ phụng bà, bà được thờ cùng Trần Hưng Đạo ở di tích chùa Đẩu Long, thành phố Ninh Bình.

Ngày nay, khu vực hậu cứ Vạn Kiếp thuộc làng Trung Quê, xã Lê Lợi, huyện Chí Linh nhiều địa danh còn lại đều gợi cho chúng ta dấu tích về việc xây dựng các cơ sở quân doanh phục vụ kháng chiến, gắn với tên tuổi của bà như: Bãi Thảo (nơi cất giữ lương thảo), Hố Chuối, Bến Tắm…

Làng Trung Quê hiện còn đền thờ Quốc Mẫu Thiên Thành được xây dựng từ thời Lê. Người dân làng vẫn nhắc nhớ câu:"Trâu thì Mẫu thả Huyền Đinh; Lợn thì Mẫu thả cánh đồng Trung Quê".

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ KHU DI TÍCH CÔN SƠN - KIẾP BẠC
  2. ^ ĐVSKTT - Trần Thái Tông bản kỷ - chữ Hán: 以天城長公主嫁忠誠王
  3. ^ Trần Hưng Đạo nhà quân sự thiên tài - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam biên soạn - NXB CTQG, Hà Nội, 2000
  4. ^ Nguyên văn: 盖帝於夫婦之道不正故其臣子效之也
  5. ^ Đại Việt Sử kí Toàn thư - Trần Thái Tông bản kỉ
  6. ^ Nguyên văn: 王姬下嫁必使同姓諸侯主之.
  7. ^ Chị ruột của Trần Thái Tông, nuôi Quốc Tuấn làm con từ nhỏ
  8. ^ Tức phủ Ứng Hoa đời sau, tương ứng với các huyện Ứng Hòa, Mỹ Đức, Chương Mỹ, Thanh Oai, tỉnh Hà Tây ngày nay.