Cạp nia nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Cạp nia nam
COLLECTIE TROPENMUSEUM Giftslang 'Oelar welang' Bungarus candidus TMnr 10006448.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Lớp (class) Reptilia
Bộ (ordo) Squamata
Phân bộ (subordo) Serpentes
Họ (familia) Elapidae
Chi (genus) Bungarus
Loài (species) B. candidus
Danh pháp hai phần
Bungarus candidus
(Linnaeus, 1758[2])
Danh pháp đồng nghĩa

Cạp nia nam[3][4] hay mai gầm bạc, rắn hổ khoang, rắn vòng bạc (danh pháp hai phần: Bungarus candidus) là một loài cạp nia thuộc họ Rắn hổ. Loài này được mô tả năm 1758 bởi Linnaeus. Loài này phân bố ở Campuchia, Indonesia (Java, Sumatra, Bali, Sulawesi), Malaysia (Malaya), Singapore, Thái Lan, Việt Nam.

Nọc độc[sửa | sửa mã nguồn]

chuột, LD50 IV của loài này là 0,1 mg/kg[5]. Nọc cạp nia nam gây tử vong tới 50% ngay cả khi điều trị bằng huyết thanh chống nọc độc; còn khi không điều trị bằng huyết thanh thì tỷ lệ tử vong là 70% đối với người[6]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bungarus candidus. Sách đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2013.1. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. 2012. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2013. 
  2. ^ 10th edition of Systema Naturae
  3. ^ Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc và Nguyễn Quảng Trường, Danh lục ếch nhái và bò sát Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 2005. tr. 128
  4. ^ Nguyễn Vũ Khôi. Danh lục bằng hình ảnh các loài bò sát - lưỡng cư tại khu vực Ba Hòn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin 3/2014. tr. 33
  5. ^ Tan, Nget Hong. “Toxins from Venoms of Poisonous Snake Indigenous to Malaysia: A Review”. Department of Molecular Medicine, Faculty of Medicine. Đại học Malaya. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2013. 
  6. ^ “Clinical Toxinology-Bungarus candidus. Clinical Toxinology Resources. Đại học Adelaide. Mortality rate:70% 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]