Chất thải công nghiệp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Chất thải công nghiệp là chất thải được tạo ra từ hoạt động công nghiệp, bao gồm bất kỳ vật liệu nào trở nên vô dụng trong quá trình sản xuất tại các nhà máy, công nghiệp, luyện kim và hoạt động khai thác. Các loại chất thải công nghiệp bao gồm bụi bẩn và sỏi, gạchbê tông, kim loại phế liệu, dầu, dung môi, hóa chất, gỗ phế liệu, thậm chí cả thực vật từ các nhà hàng. Chất thải công nghiệp có thể là chất rắn, lỏng hoặc khí. Nó có thể là chất thải nguy hại hoặc không nguy hại. Chất thải nguy hại có thể độc hại, dễ bắt lửa, ăn mòn, phản ứng hoặc phóng xạ. Chất thải công nghiệp có thể gây ô nhiễm không khí, đất hoặc các nguồn nước gần đó, cuối cùng làm ô nhiễm biển.[1] Chất thải công nghiệp thường được trộn vào chất thải đô thị, làm cho việc đánh giá chính xác trở nên khó khăn. Ước tính Hoa Kỳ có tới 7.6 tỷ tấn chất thải công nghiệp được tạo ra mỗi năm.[2] Hầu hết các quốc gia đã ban hành luật để xử lý vấn đề chất thải công nghiệp, nhưng chế độ nghiêm ngặt và tuân thủ khác nhau. Thực thi luật pháp về việc này luôn là một vấn đề.

Phân loại và xử lý[sửa | sửa mã nguồn]

Chất thải độc hại, chất thải hóa học, chất thải rắn công nghiệp và chất thải rắn đô thị là những chỉ định của chất thải công nghiệp. Các nhà máy xử lý nước thải có thể xử lý một số chất thải công nghiệp, tức là những chất thải bao gồm các chất ô nhiễm thông thường như nhu cầu oxy sinh hóa (BOD). Chất thải công nghiệp có chứa chất ô nhiễm độc hại hoặc nồng độ cao của các chất ô nhiễm khác (như amoniac) đòi hỏi phải có hệ thống xử lý chuyên biệt. (Xem Xử lý nước thải công nghiệp).

Chất thải công nghiệp có thể được phân loại dựa trên đặc điểm của chúng:

  • Chất thải ở dạng rắn, nhưng một số chất ô nhiễm bên trong ở dạng lỏng hoặc lỏng, ví dụ như ngành sành sứ hoặc rửa khoáng sản hoặc than
  • Chất thải ở dạng hòa tan và chất ô nhiễm ở dạng lỏng, ví dụ như ngành sữa

Tác động môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà máy và nhà máy điện thường được đặt gần các vùng nước do nhu cầu lượng nước lớn làm đầu vào cho quá trình sản xuất hoặc để làm mát thiết bị. Nhiều khu vực đang trở nên công nghiệp hóa chưa có tài nguyên hoặc công nghệ để xử lý chất thải với các tác động ít hơn đến môi trường. Cả nước thải chưa được xử lý và xử lý một phần thường được đưa trở lại vào một vùng chứa nước. Kim loại, hóa chất và nước thải được đưa vào các vùng chứa nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái biển và sức khỏe của những người sống phụ thuộc vào nước như nguồn thức ăn hoặc nước uống. Các độc tố từ nước thải có thể giết chết sinh vật biển hoặc gây ra các mức độ bệnh khác nhau cho những người tiêu thụ các động vật biển này, tùy thuộc vào chất gây ô nhiễm. Kim loại và hóa chất thải vào cơ thể nước ảnh hưởng đến hệ sinh thái biển.[3]

Nước thải có chứa nitrat và phốt phát thường gây ra hiện tượng phú dưỡng có thể giết chết sự sống hiện có trong nước. Một nghiên cứu của Thái Lan tập trung vào nguồn gốc ô nhiễm nước cho thấy nồng độ ô nhiễm nước cao nhất trong sông U-tapao có mối tương quan trực tiếp với nước thải công nghiệp.[4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Maczulak, Anne Elizabeth (2010). Pollution: Treating Environmental Toxins. New York: Infobase Publishing. tr. 120. ISBN 9781438126333. 
  2. ^ “Industrial Waste Management: Waste Stream Statistics”. Recover Inc. (bằng tiếng en-US). 28 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2019. 
  3. ^ Wastes in Marine Environments. Washington, DC: U.S. Congress, Office of Technology Assessment. 1987. tr. 22. 
  4. ^ Gyawali at al. (2012). “Effects of Industrial Waste Disposal on the Surface Water Quality of U-tapao River, Thailand” (PDF). 2012 International Conference on Environment Science and Engineering 32: 5.