Triết học kinh viện

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Chủ nghĩa kinh viện)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hình vẽ một trường học thế kỷ 14.

Triết học kinh viện (tiếng Đức: Scholastik từ σχολαστικός tiếng Hy Lạp cổ đại Scholasticus có nghĩa "nhàn rỗi", "cống hiến thời giờ nhàn rỗi của mình cho khoa học", Latinh hóa scholasticus "thuộc về trường học, đại học") là tư duy khoa học và phương pháp lập luận mà đã mà chủ yếu được giảng dạy bởi các học giả của các trường đại học thời trung cổchâu Âu từ khoảng 1100-1700. Nó vừa là phương pháp vừa là một hệ thống hướng tới việc hòa trộn thần học Ki-tô giáo của các vị Giáo phụ với triết học Hy Lạp của Aristotle. Triết học kinh viện phát triển khởi đầu từ các tu viện Kitô tới các đại học đầu tiên ở châu Âu. [1] Các tổ chức đầu tiên ở phương Tây được coi là trường đại học được thành lập tại Ý, Pháp, Tây Ban NhaAnh vào cuối thế kỷ 11 và 12 cho các nghiên cứu về Giáo dục các môn khai phóng, pháp luật, y học, và thần học, [2] như Schola Medica Salernitana, trường Đại học Bologna, và Đại học Paris. Rất khó để xác định ngày mà tại đó chúng đã trở thành các trường đại học thực sự.

Triết học kinh viện không phải chủ yếu là một triết lý hay một môn thần học mà là một phương pháp học tập, vì nó nhấn mạnh về lý luận biện chứng để mở rộng kiến thức bằng cách suy luận và giải quyết mâu thuẫn. Suy nghĩ kinh viện cũng được biết đến với phân tích khái niệm nghiêm ngặt và việc rút ra một cách cẩn thận các khác biệt. Trong lớp học và trong viết văn, nó thường có dạng rõ ràng của một cuộc tranh luận; một chủ đề được rút ra từ truyền thống được đề cập trong hình thức của một câu hỏi, những câu trả lời đối lập được đưa ra, một đề nghị phản lại được tranh luận và các lập luận đối ngược bị bác bỏ. Bởi vì sự nhấn mạnh vào phương pháp biện chứng nghiêm ngặt, triết học kinh viện cuối cùng đã được áp dụng cho nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác.

Là một chương trình, triết học kinh viện bắt đầu như là một nỗ lực hài hòa trên phần của các nhà tư tưởng Kitô giáo thời Trung cổ, để hài hòa các cơ quan khác nhau của truyền thống riêng của họ, và để hòa giải thần học Kitô giáo với triết học cổ đại, đặc biệt là của Aristotle và cả của Tân Platon. [3]

Phần mà ngày nay được biết tới nhiều nhất của văn chương triết học kinh viện bàn về những câu hỏi thần học. Triết học kinh viện, tuy nhiên, không chỉ giới hạn trong các chủ đề và mục tiêu thần học, nhưng bao trùm toàn bộ các hoạt động khoa học. Phương pháp triết học kinh viện đã được coi là phương pháp khoa học tuyệt hảo.

Nhân vật tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhân vật chính của triết học kinh viện là Peter Abelard, Albertus Magnus, Duns Scotus, William xứ Ockham, Bonaventure, và nổi bật hơn cả là Thomas Aquinas với Summa Theologiae - một hợp đề đầy tham vọng kết hợp triết học Hy Lạp và giáo lý Ki-tô giáo. Vào thời Phục hưng, các phương pháp suy diễn và tiên nghiệm của triết học kinh viện đã bị thay thế bởi lập luận quy nạp của khoa học hiện đại, trong khi cơ sở lý thuyết thần học chịu sự thách thức của chủ nghĩa nhân văn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ See Steven P. Marone, "Medieval philosophy in context" in A. S. McGrade, ed., The Cambridge Companion to Medieval Philosophy (Cambridge: Cambridge University Press, 2003). On the difference between scholastic and medieval monastic postures towards learning, see Jean Leclercq, The Love of Learning and the Desire for God (New York: Fordham University Press, 1970) esp. 89; 238ff.
  2. ^ de Ridder-Symoens 1992, pp. 47–55
  3. ^ Particularly through Pseudo-Dionysius, Augustine, and Boethius, and through the influence of Plotinus and Proclus on Muslim philosophers. In the case of Aquinas, for instance, see Jan Aertsen, "Aquinas' philosophy in its historical setting" in The Cambridge Companion to Aquinas, ed. Norman Kretzmann and Eleonore Stump (Cambridge: Cambridge University Press, 1993). Jean Leclerq, The Love of Learning and the Desire for God (New York: Fordham University Press, 1970).