Chữ khoa đẩu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Chữ nòng nọc
Ngôn ngữTiếng Trung Quốc
Nguồn gốc
  • Chữ nòng nọc
Ghi chú: Trang này có thể chứa những biểu tượng ngữ âm IPA trong Unicode.

Chữ nòng nọc hay chữ khoa đẩu (蝌蚪文/khoa đẩu văn, “蝌蚪书”/khoa đẩu thư、“蝌蚪篆”/khoa đẩu triện) là một dị dạng khác của Triện thư của Chữ Trung Quốc cổ.[1] Là biến thể Đại Triện vào thời Chu Tuyên vương.

Tóm lược[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một loại chữ lần đầu tiên được tìm thấy vào thế kỷ 2 trong căn nhà đã sập của Khổng Tử - vị tổ của nền học thuật Nho giáo nằm trong một bản thảo chép tay.[2][3] Là loại chữ có hình những con nòng nọc với đầu to và đuôi nhỏ.[4] Thật khó để có thể viết một dòng có chiều rộng bằng nhau. Là loại chữ phổ biến thời nhà Chu.[5][6] Nhưng sau thời nhà Đường sự phổ biến của nó giảm xuống.

Bởi vì sơn có độ bám dính mạnh, người ta đã viết chữ bằng sơn trước khi phát minh ra mực. Họ đã dùng xiên tre để viết lên thẻ tre, được gọi là chữ Khế văn hay Trúc Giản thư. Bởi vì thẻ tre cứng và nhiều dầu mỡ, chữ viết không được trôi chảy, các nét bút luôn được viết với các cạnh sắc nét, nét chữ được viết ra có đầu dày và đuôi mỏng, giống như hình những con nòng nọc. Mọi sách thẻ tre viết bằng sơn, đều có thể là viết chữ khoa đẩu. Không giới hạn ở những chữ mà tương truyền do Thương Hiệt đã tập đại thành. Ví dụ như những chữ trên Cổ Văn Kinh, Thượng Bác Giản, Thanh Hoa Giản, Trúc thư kỷ niên tất cả đều là chữ khoa đẩu.

Sau đó, vào thời Tuyên vương nhà Chu, Sử Trứu, quan chuyên về chép sử tức là Thái sử đã sửa đổi chữ này thành Đại Triện.[7]

Truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hiến đầu tiên có tên loại chữ này có lẽ là Ngụy Cổ Văn Thượng Thư Lễ An Quốc Tự (ngụy tác của người đời nhà Tấn). Mặc khác, cũng có trong các sách cổ thẻ tre bị trộm ở mộ cổ được nhắc đến trong Tấn thư.

Có người cho rằng, truyền thuyết hay huyền thoại về loại chữ này đã được lưu truyền từ thời nhà Tấn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chinese History: A Manual - Page 408 Endymion Wilkinson - 2000 -"Kedou 蝌蚪文 (tadpole) script was another variety of seal script. It was named after its appearance: heavy strokes at the top tapering off at the bottom.
  2. ^ Yin Khoon Wong Unlocking the Chinese heritage - 1990- Page 18 "TADPOLE SCRIPT The origin of Tadpole Script was recorded thus: In the 2nd century, when the house of the Sage Confucius was pulled down for rebuilding, old books written in ancient characters were uncovered from a hiding place behind..."
  3. ^ Walter Hillier The chinese language and how to learn it manual for beginners - - 1923 Page 8 "Of this latter form few, if any, genuine examples exist, though tradition has it that a copy of a portion of the Chinese Classics written in the " tadpole " script was discovered about the year 150 B.C. hidden away in the walls of the house originally..."
  4. ^ Monthly list of Chinese books - Volume 3, Issues 1-12 - Page 7 1962 "In the last year of Han dynasty, "tadpole script" was created. The ancient-style characters in the Three Style Stone Classics were carved with broad heads and thin tails (Figs. 17 & 18), somewhat like tadpoles. (Tadpole script with big heads and..."
  5. ^ From deluge to discourse: myth, history, and the generation of... - Page 10 Deborah Lynn Porter - 1996 "... most scholars of ancient texts; he concludes that the texts were written in the "ancient script," that is, the "script that was used during the Chou era"; "tadpole script" was simply a popular way of referring to the "ancient script of the Chou period.
  6. ^ The road to East Slope: the development of Su Shi's poetic voice - Page 102 Michael Anthony Fuller - 1990 "He is said to have invented the seal script. The Shui jing zhu TKILif. (Commentary on the Shui Jing) explains that the term "tadpole script" was applied to the seal script when the old texts were IO2 Fengxiang and the Poetry of Immanent Pattern."
  7. ^ [Hậu Hán]Hứa Thận,《Thuyết văn Giải tự·Tự(敘)》. Hứa Thận viết:「Chu Thái sử Trứu trứ Đại Triện thập ngũ thiên dữ Cổ Văn hoặc dị」