Sơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Assorted Tempera (top) and Gouache (bottom) paints

Sơn là bất kỳ chất lỏng, hoặc chất liệu mastic nào, sau khi sơn một lớp mỏng lên bề mặt, chuyển thành một màng cứng. Nó thường được sử dụng để bảo vệ, tạo màu sắc, hoặc cung cấp kết cấu cho các đối tượng. Sơn có thể được sản xuất hoặc mua với nhiều màu sắc và nhiều loại khác nhau, chẳng hạn như màu nước, tổng hợp, v.v.. Sơn thường được lưu trữ, bán và ứng dụng như chất lỏng, nhưng hầu hết các loại sơn khô đi biến thành chất rắn.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Một bức tranh sơn dầu than Megaloceros từ Lascaux, Pháp

Vào năm 2001 và 2004, các nhà khảo cổ học Nam Phi đã phát hiện thấy trong Hang Blombos có một hỗn hợp bột màu do con người tạo ra 100.000 năm tuổi có thể được sử dụng như sơn.[1][2] Việc khai quật thêm trong cùng một hang động đã dẫn đến báo cáo năm 2011 về một bộ công cụ hoàn chỉnh để nghiền các màu và tạo ra một chất giống như sơn nguyên thủy.[2][3] Các bức tranh hang động được vẽ bằng chất màu đỏ hoặc vàng, hematit, mangan oxit, và than củi có thể được Homo sapiens tạo ra từ 40.000 năm trước.

Những bức tường màu cổ đại ở Dendera, Ai Cập, trải qua bao năm bị bào mòn, vẫn còn duy trì màu sắc rực rỡ của chúng, sống động như khi chúng được sơn vào khoảng 2.000 năm trước. Người Ai Cập trộn lẫn màu sắc của họ với chất như kẹo cao su, và sử dụng chúng riêng biệt với nhau mà không có bất kỳ pha trộn hoặc hỗn hợp nào. Có vẻ như họ đã sử dụng sáu màu: trắng, đen, xanh, đỏ, vàng và xanh lá cây. Họ lần đầu tiên bao phủ toàn bộ khu vực với màu trắng, sau đó vẽ khung thiết kế bằng màu đen, để lại những màu sáng cho màu nền. Họ dùng minium (chì oxit Pb3O4) làm màu đỏ, và màu đỏ này thường sẫm màu hơn.

Thành phần[sửa | sửa mã nguồn]

1. Nhựa (40% - 60%): Alkyd, Acrylic, Epoxy, Polyurethane, Fluorocarbon.

Tạo liên kết các thành phần của sơn

Tạo độ kế dính cho sơn

Tạo độ bền cho màn sơn

2. Bột màu (7% - 40%): bột màu gốc, bột màu bổ sung, bột chống gỉ

Tạo màu sơn

Tạo độ bền và độ cứng của màng sơn

3. Phụ gia (0% - 5%): là các chất tăng độ bền cho sơn bao gồm độ bền màu sắc, khả năng chịu thời tiết, tăng độ bóng cứng và độ phủ cho sơn, tăng thời gian bảo quản của sơn, một số tính chất đặc biệt khác

Chất làm khô tạo sức căng bề mặt

Chất chóng nấm mốc

4. Dung môi (10% - 30%): hòa tan nhựa và bột màu

Nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hội họa
Watercolors as applied with a brush

Kể từ thời Phục Hưng, sơn dầu (chủ yếu là dầu hạt lanh) là loại sơn thông dụng nhất trong các ứng dụng mỹ thuật và vẫn còn phổ biến cho đến ngày nay. Tuy nhiên, trong thế kỷ 20, sơn nước, kể cả sơn màu nướcsơn acrylic, trở nên rất phổ biến với sự phát triển của sơn acrylic và các loại sơn latex khác. Các loại sơn sữa (còn gọi là casein), với tên có nguồn gốc từ nhũ tương tự nhiên là sữa, phổ biến trong thế kỷ 19 và vẫn còn hiện nay. Egg tempera (tên bắt nguồn từ một hỗn hợp lòng đỏ trứng gà trộn với dầu) vẫn còn được sử dụng, như sơn sáp encaustic. Gouache là một loại màu nước được sử dụng trong thời Trung Cổ và Phục hưng cho những tranh minh họa. Chất nhuộm màu thường được làm từ đá trên mặt đất như lapis lazuli và chất kết dính được làm từ gôm kẹo cao su hoặc trứng trắng. Gouache, còn được gọi là 'màu thiết kế' hoặc 'màu chính', đã được thương mại hóa ngày nay.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hillary Mayell (31 tháng 3 năm 2004). “Is Bead Find Proof Modern Thought Began in Africa?”. National Geographic News. tr. 2. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2016. Work published in 2001 described 28 bone tools and thousands of pieces of ocher—a mineral used to create paint for body decoration and cave painting—dated at roughly 70,000 years old found in Blombos Cave in South Africa. Two pieces of ocher appear to be marked with abstract lines that could be viewed as artistic expression. 
  2. ^ a ă “Stone Age painting kits found in cave”. The Guardian. 13 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2016. 
  3. ^ Stephanie Pappa (13 tháng 10 năm 2011). “Oldest Human Paint-Making Studio Discovered in Cave”. Live Science. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2011.