Charles, Công tước Hạ Lorraine
Charles, Công tước Hạ Lorraine | |
|---|---|
Charles của Pháp, Công tước Hạ Lorraine với chú thích Fondateur de Bruxelles (Người sáng lập Bruxelles), bản in thạch bản năm 1850 | |
| Thông tin chung | |
| Sinh | 953 Laon |
| Mất | 22 tháng 6 năm 993 (39–40 tuổi) Orléans |
| Gia tộc | Caroling |
| Cha | Louis IV của Pháp |
| Mẹ | Gerberga xứ Sachsen |
Charles (953 – 22 tháng 6 năm 992) là Công tước Hạ Lorraine từ năm 977 cho đến khi qua đời.
Cuộc đời
[sửa | sửa mã nguồn]Charles sinh tại Reims vào mùa hè năm 953, là con trai của Vua Louis IV của Pháp và Gerberga xứ Sachsen, đồng thời là em trai của Vua Lothaire. [1]Ông là hậu duệ đời thứ sáu của Charlemagne.[2][3] Khi Louis IV bị người Norman bắt giữ và đòi hai người con trai làm con tin để đổi lấy việc phóng thích,[3] Vuơng hậu Gerberga chỉ đồng ý gửi Charles, sau đó ông bị trao cho người Norman; đổi lại, vua cha được giao trả cho Hugh Capet.[4]
Vào khoảng năm 976, Charles cáo buộc Emma, vợ của Lothair và là con gái của Lothair II của Ý, ngoại tình với Adalberon, Giám mục Laon. Hội đồng Sainte-Macre tại Fismes (gần Reims) tuyên bố minh oan cho cả hai, nhưng Charles vẫn giữ lời cáo buộc và bị trục xuất khỏi vương quốc. Ông chạy sang triều đình của người anh em họ là Hoàng đế Otto II, người hứa sẽ phong tước vương cho Charles khi Lothaire qua đời. Charles tuyên thệ thần phục Otto và được trao lại Hạ Lorraine.[5]
Tháng 8 năm 978, Lothair tiến đánh Đức và chiếm Aachen nhưng không bắt được Otto hay Charles. Đến tháng 10, Otto và Charles phản công xâm lược Pháp, tàn phá vùng Reims, Soissons và Laon. Tại Laon kinh đô truyền thống của các vua Pháp, Charles được Giám mục Theodoric I của Metz làm lễ tấn phong. Lothaire chạy về Paris nhưng bị bao vây, nhưng quân cứu viện do Hugh Capet chỉ huy buộc Otto và Charles phải rút lui vào ngày 30 tháng 11. Lothaire và Capet sau đó truy kích họ đến tận Aachen rồi tái chiếm Laon.
Khoảng năm 979, Charles cho chuyển thánh tích của Thánh Gudula từ Moorsel đến nhà nguyện Saint-Géry tại đảo Saint-Géry gần Brussels. Sự kiện này thường được xem là thời điểm khai sinh thành phố Brussels. Charles cũng xây dựng pháo đài đầu tiên tại đây, trên chính hòn đảo ấy.
Vì từng là chư hầu của Lothaire, việc ông trợ giúp Otto bị xem là phản nghịch, khiến ông bị loại khỏi danh sách kế vị. Sau khi Lothaire qua đời năm 986, các đại thần bầu con trai ông là Louis V; khi Louis V mất năm 987, họ bầu Hugh Capet, mở đầu triều đại Capet và gạt Charles sang bên lề chính trị. Cuộc hôn nhân không nổi bật và tình trạng thiếu tài chính của ông cũng là những lý do khiến ông không được chọn làm vua.[6]
Charles tiếp tục gây chiến với Hugh Capet, thậm chí chiếm được Reims và Laon. Tuy nhiên, vào Thứ Năm Tuần Thánh[7] ngày 26 tháng 3 năm 991, ông bị bắt do sự phản bội của Giám mục Adalberon, và bị Capet giam tại Orléans. Ông được kế nhiệm chức Công tước Hạ Lorraine bởi con trai là Otto.[8]

Ngày mất và nơi an táng của Charles không hoàn toàn chắc chắn. Sổ tử của giáo phận Liège chép ông mất ngày 22 tháng 6, không ghi năm. Sigebert xứ Gembloux ghi sự kiện này vào năm 991, nhưng có thể nhầm với năm ông bị bắt, vì hai văn kiện tháng 1 năm 992 cho thấy ông vẫn còn sống: một văn bản được niên đại bằng “năm thứ năm của Charles, vua chờ đợi (sperante Karolo rege)”, văn bản kia niên đại theo triều Hugh với chú thích “khi Charles bị giam trong tù” (Karolo trusus in carcere). Ông phải mất trước 995, khi Giám mục Adalberon và Bá tước Odo xứ Blois cố đưa con trai ông, Louis, lên ngôi. Một số nguồn cho rằng ông mất tại Orléans, nhưng điều này chỉ là phỏng đoán.[9]
Historia Francorum Senonensis (khoảng 1015–1034) mô tả Charles là vị vua hợp pháp năm 987 và Hugh Capet là là kẻ cướp ngôi.[10] [9]Năm 1666, một quan tài bằng chì mang tên Charles được phát hiện tại Vương cung thánh đường Saint Servatius ở Maastricht kèm dòng chữ niên đại 1001, được cho là ngày cải táng chứ không phải ngày mất. Rất có thể con trai ông, Otto, đã cho chuyển di hài đến Maastricht. Quan tài vẫn còn, nhưng dòng chữ khắc ban đầu đã bị mất.
Gia đình
[sửa | sửa mã nguồn]
Năm 970 Charles kết hôn với Adelaide của Troyes.[11] Họ có với nhau năm người con:
- Otto, sau là Công tước Hạ Lorraine[12]
- Ermengarde, người kết hôn với Albert I, Bá tước xứ Namur[12]
- Gerberga (975–1018), người kết hôn với Lambert I, Bá tước xứ Louvain[13]
- Louis (989 – sau năm 993)[1]
- Charles (sinh năm 989)[1]
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ a b c Detlev Schwennicke, Europäische Stammtafeln: Stammtafeln zur Geschichte der Europäischen Staaten, Neue Folge, Band II (Marburg, Germany: J. A. Stargardt, 1984), Tafel 1
- ^ Detlev Schwennicke, Europäische Stammtafeln: Stammtafeln zur Geschichte der Europäischen Staaten, Neue Folge, Band I (Marburg, Germany: J. A. Stargardt, 1980), Tafel 2
- ^ a b The Annals of Flodoard of Reims, 919–966, biên tập và dịch bởi Stephen Fanning; Bernard S. Bachrach (Toronto: Nhà xuất bản Đại học Toronto, 2004), tr. 44
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênAFR44 - ^ Pierre Riché, The Carolingians; A Family Who Forged Europe, bản dịch của Michael Idomir Allen (Philadelphia: Nhà xuất bản Đại học Pennsylvania, 1983), tr. 276
- ^ Pierre Riché, The Carolingians; A Family Who Forged Europe, trans. Michael Idomir Allen (Philadelphia: University of Pennsylvania Press, 1983), p. 278
- ^ La cathédrale de Laon by madame Suzanne Martinet, p. 80
- ^ Pierre Riché, The Carolingians; A Family Who Forged Europe, trans. Michael Idomir Allen (Philadelphia: University of Pennsylvania Press, 1983), p. 279
- ^ a b Ferdinand Lot, Les derniers Carolingiens: Lothaire, Louis V, Charles de Lorraine (954–991) (Paris: Émile Bouillon, 1891), các tr. 277–279, 281–282.
- ^ Fraser McNair, "A Post-Carolingian Voice of Dissent: The Historia Francorum Senonensis", Journal of Medieval Latin 28 (2018): 15–47.
- ^ Bouchard 2001, tr. Figure 6.1.
- ^ a b Tanner 1992, tr. 254.
- ^ Tanner 1992, tr. 255.
Thư mục
[sửa | sửa mã nguồn]- Bouchard, Constance Brittain (2001). Those of My Blood: Creating Noble Families in Medieval Francia. University of Pennsylvania Press.
- Tanner, Heather J. (1992). Chibnall, Marjorie (biên tập). "The Expansion of the Power and Influence of the Counts of Boulogne under Eustace II". Anglo-Norman Studies - XIV.Proceeding of the Battle Conference 1991. The Boydell Press. tr. 251-286.
- Tanner, Heather J. (2004). Family, Friends and Allies; Boulogne and Politics in Northern France and England c. 879-1160. Brill.
- Gwatkin, H. M., Whitney, J. P. (ed.) et al. The Cambridge Medieval History: Volume III. Cambridge University Press, 1926.
Đọc thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Gwatkin, H. M., Whitney, J. P. (ed.) et al. The Cambridge Medieval History: Volume III. Cambridge University Press, 1926.