Chi Nhông cát

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chi Nhông cát
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Nhánh Craniata
Phân ngành (subphylum)Vertebrata
Phân thứ ngành (infraphylum)Gnathostomata
Liên lớp (superclass)Tetrapoda
Lớp (class)Sauropsida
Reptilia
Phân lớp (subclass)Diapsida
Phân thứ lớp (infraclass)Lepidosauromorpha
Liên bộ (superordo)Lepidosauria
Bộ (ordo)Squamata
Phân bộ (subordo)Iguania
Lacertilia
Họ (familia)Agamidae
Phân họ (subfamilia)Leiolepidinae
Chi (genus)Leiolepis
Cuvier, 1829
Các loài
8, xem văn bản.

Chi Nhông cát (danh pháp khoa học: Leiolepis) là một nhóm nhông mà hiện tại người ta còn biết tới rất ít ỏi. Chúng là các loài nhông bản địa tại Thái Lan, Myanma, Lào, Campuchia, IndonesiaViệt Nam. Chúng là các loài bò sát thích nghi với kiểu sống chạy trên mặt đất, ưa thích sống trong các khu vực thưa thớt cây cối và khô cằn. Chúng còn được dân gian gọi là kỳ nhông hay con giông /dông[1], kỳ nhông cát[2].

Chi Leiolepis cũng là chi duy nhất có trong phân họ Nhông cát (Leiolepidinae).

Các loài[sửa | sửa mã nguồn]

Tính tới thời điểm tháng 11 năm 2010 thì chi này có 8 loài[3][4][5]:

Sinh sản hữu tính[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh sản vô tính[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]