Châu Du Dân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Chu Du Dân)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chu Du Dân
Vic Chou.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Chu Dục Dân (周育民) (bính âm: Zhōu Yùmín)
Sinh 9 tháng 6, 1981 (32 tuổi)
Nghề nghiệp diễn viên, ca sĩ, người mẫu
Năm 2001-2007 (F4 / JVKV)
2001- đến nay (đóng phim)
2002 đến nay (hát đơn)
Hãng đĩa Sony Music Entertainment

Chu Du Dân (tiếng Trung: 周渝民; pinyin: Zhōu Yúmín; ở Việt Nam thường được gọi là Châu Du Dân) là một ca sĩ kiêm diễn viên, người mẫu Đài Loan nổi tiếng trong làng giải trí châu Á. Danh tiếng của Chu Du Dân được tạo nên nhờ sự thành công của nhóm nhạc Đài Loan F4 (hay JVKV) (mà anh là một thành viên) cùng nhiều vai diễn của anh trong các loạt phim truyền hình Đài Loan được khán giả nhiều nước châu Á đón nhận, yêu mến.

Tiểu sử và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Du Dân sinh ra và lớn lên tại Đài Loan trong một gia đình gốc Sơn Đông (Ông bà nội là người Sơn Đông và Hồ Nam; ông bà ngoại người Thượng Hải). Bố mẹ Chu Du Dân sống li thân, anh sống cùng mẹ tại Đài Bắc - Đài Loan.

Tính tình: khiêm tốn, lịch sự, lạc quan. Môn thể thao yêu thích: chạy bộ, bóng rổ.

Đặc điểm: lông mày rậm, ngoại hình thanh tú, nụ cười rạng rỡ với biệt danh “sát gái”, thích ứng nhanh trong môi trường và học tập.

Đóng phim "Vườn sao băng (2000) và gia nhập F4"[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một lần đi cùng bạn đến thử vai cho bộ phim "Vườn sao băng" tại Đài Bắc, vì chờ đợi lâu nên thừ người ra, nét mặt giống nhân vật Hoa Trạch Loại trong truyện tranh “Mưa sao băng” của Nhật nên Sài Trí Bình phát hiện và đưa anh vào ngành.(2001)

Nhờ đóng trong bộ phim cải biên từ truyện tranh Nhật “Mưa Sao Băng”, cùng với Ngô Kiến Hào, Ngôn Thừa HúcChu Hiếu Thiên hợp thành nhóm F4 - nhóm ca nổi tiếng đình đám bấy giờ (2001).

Lúc mời bắt đầu Sài Trí Bình ngỏ ý mời anh đóng phim, anh lập tức phản đối, anh nói: “Tôi không có hứng thú xuất hiện trước máy quay”, chỉ đến học thử lớp diễn xuất thôi. Nhưng Sài Trí Bình vẫn kiên trì và mời đạo diễn đến chỉ để nhìn lén anh đang ngồi đó chỉ chực chờ bỏ chạy. Đạo diễn phát hiện khi nhìn nghiêng 45 độ anh rất đẹp. Đến tận bây giờ anh đóng phim vẫn còn cảm giác như bị ép đến mới làm.

Hoạt động nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Du Dân cùng với nhóm nhạc F4 nổi danh khắp các nước châu Á vào đầu những năm 2000 vì có một ngoại hình đẹp, giọng hát ổn, lại được hậu thuẫn bởi một công nghệ Showbiz khá chuyên nghiệp với vai trò lớn của Sài Trí Bình (bà bầu của nhóm). Ngoài ca hát, nhóm F4 nói chung và Chu Du Dân nói riêng còn tham gia vào khá nhiều bộ phim truyền hình, quảng cáo và các hoạt động xã hội khác nên danh tiếng và hình tượng của nhóm được phổ biến tại rất nhiều nước (đặc biệt là ở Đông Á).

Sau khi "cơn sốt" F4 tạm thời trôi qua, Chu Du Dân cùng các thành viên khác của nhóm tiếp tục sự nghiệp với các hoạt động giải trí khác. Nhờ lợi thế là thành viên được hâm mộ nhất của F4, Chu Du Dân đã bước đầu xây dựng được một hình ảnh độc lập trong lòng người hâm mộ châu Á bằng việc tham gia một loạt các hoạt động giải trí với vai trò độc lập (như tham gia các bộ phim truyền hình và điện ảnh, phát hành album ca nhạc độc lập, tiêu biểu là album "I'm not F4" - "Tôi không phải là F4", khẳng định cá tính và giá trị của riêng mình).

Ngoài ra, Chu Du Dân còn được biết đến bởi những mối quan hệ tình cảm với các nữ minh tinh châu Á, nhưng vì là một nhân vật nổi tiếng nên anh cũng không tránh khỏi sự nhòm ngó và thêu dệt của công luận đối với các mối quan hệ này.

Hình tượng trong lòng công chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong làng giải trí châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng như các ngôi sao khác trong làng giải trí châu Á (đặc biệt là trong Showbiz Hoa ngữ) - một nhân vật của công chúng phải là một người đa tài (ca hát, đóng phim, diễn thời trang, dẫn chương trình,... đều phải giỏi) nên Chu Du Dân - với năng khiếu bản thân và sự giúp đỡ của công nghệ Showbiz đã dấn thân vào rất nhiều lĩnh vực của ngành giải trí Đài Loan nói riêng và châu Á nói chung, bước đầu xây dựng được một hình tượng đẹp trong lòng công chúng, nhất là giới trẻ châu Á:

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù chất giọng của Chu Du Dân không được khỏe khoắn, cũng không có gì đặc biệt nổi trội, nhưng thanh và dễ lọt tai, ngoài ra, dòng nhạc anh theo đuổi cũng là dòng nhạc thịnh hành của châu Á (ballad, trữ tình), cộng thêm một hình tượng đẹp đã được xây dựng sẵn từ trước và sự dễ tính của khán thính giả châu Á nên giọng hát của Chu Du Dân vẫn cơ bản được nhiều người chấp nhận, không thấy có sự phê phán nào thái quá.

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Công bằng mà nói, hình ảnh thể hiện trên phim ảnh đóng góp một phần lớn vào sự thành công của Chu Du Dân chứ không phải là âm nhạc như vai trò ca sĩ ban đầu của anh.

Trong những vai diễn ban đầu (như Hoa Trạch Loại trong phim "Vườn sao băng", Lục Dĩnh Phong trong "Cơn lốc tình yêu", hình tượng anh thể hiện đều là những mẫu hình lí tưởng của thanh niên châu Á hiện đại (dũng cảm, kiên cường, tài giỏi, cao cả, tốt bụng và một chút bí ẩn, kiêu ngạo,...), cộng với lối tạo hình nhân vật một cách rất hoàn thiện cả về ngoại hình và tính cách - tiêu biểu cho dòng phim "thần tượng" Đài Loan, nên các vai diễn của Chu Du Dân đã để lại một ấn tượng tích cực trong khán giả trẻ châu Á, không chỉ là mẫu hình theo đuổi của các cô gái mà còn là một hình tượng phấn đấu của các chàng trai. Nhờ vậy mà hình tượng của Chu Du Dân luôn được khán giả trẻ châu Á đón nhận một cách ưu ái. Có thể diễn xuất của anh trong các bộ phim chưa được chuyên nghiệp lắm nhưng cách anh thể hiện nhân vật lại gần gũi với đời thường, các vai diễn của anh giống như những hình tượng hoàn mỹ trong các câu truyện cổ tích - vốn được giới trẻ yêu mến nhưng khó tồn tại trong đời sống thực, nên khán giả dễ bỏ qua các nhược điểm và đề cao ưu điểm của Chu Du Dân trong các vai diễn.

Trong các vai diễn sau này, Chu Du Dân đã cố gắng thể hiện một nhân vật có cá tính hơn, thoát khỏi vỏ bọc "Bạch mã hoàng tử", nhưng trước mắt vẫn chưa có bước đột phá lớn trong lòng công chúng.

Đóng góp[sửa | sửa mã nguồn]

Album chính[sửa | sửa mã nguồn]

Năm phát hành Tên album (tiếng Anh) Tên tiếng Trung Danh sách ca khúc
2002 Make A Wish
  1. Make A Wish
  2. Love Loves You - 愛在愛妳 (bính âm: Ài Zài Ài Nǐ)
  3. Hotline For Help - 求救專線 (bính âm: Qiú Jiù Zhuān Xiàn)
  4. Broken Tears - 破碎的眼淚 (bính âm: Pò Suì De Yǎn Lèi)
  5. A Gentle Good Night - 溫柔的晚安 (bính âm: Wēn Róu De Wǎn Ān)
  6. With Me And You - 有我有你 (bính âm: Yǒu Wǒ Yǒu Nǐ)
  7. Loving You
  8. It Aches My Heart - 心疼 (bính âm: Xīn Téng)
  9. Even Fairy Tales Are Not Good Enough - 童話還不夠美好 (bính âm: Tóng Huà Hái Bú Gòu Měi Hǎo)
  10. If It Were Not, For Loving You - 要不是愛上你 (bính âm: Yào Bú Shì Ài Shàng Nǐ)
2004 Remember, I Love You 記得我愛你
  1. Remember, I Love You - 記得我愛你 (bính âm: Jì Dé Wǒ Ài Nǐ)
  2. Your Body Temperature - 你的體温 (bính âm: Nǐ De Tī Wēn)
  3. Try To Love Me For A Day - 試著愛我一天 (bính âm: Shì Zhe Ài Wǒ Yì Tiān)
  4. Mama Said - 媽媽説 (bính âm: Mā Mā Shuo)
  5. How To Forget - 怎麽忘 (bính âm: Zěn Me Wàng)
  6. Guarantee Of Happiness - 幸福的保證 (bính âm: Xìng Fú De Bǎo Zhèng)
  7. Why Didn't You Come - 為何你不来 (bính âm: Wéi Hé Nǐ Bú Lái)
  8. Suddenly - 忽然 (bính âm: Hū Rán)
  9. Message Of Three Thousand Years - 三千年的留言 (bính âm: Sān Qiān Nián De Liú Yán)
  10. I Breathe You - 我呼吸你 (bính âm: Wǒ Hū Xī Nǐ)

Các phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Tên tiếng Trung Vai diễn
2001 Vườn sao băng (2000) 流星花園 Hoa Trạch Loại (花澤類)
2001 Poor Prince 貧窮貴公子 Shān Tián Tài Láng (山田太郎)
2001 Mưa sao băng (2000) 流星雨 Hoa Trạch Loại (花澤類)
2002 Come to My Place 來我家吧 Zhang Zhong Yuan (張中原)
2002 Vườn sao băng (2000) II 流星花園 2 Hoa Trạch Loại (花澤類)
2003 Love Storm 狂愛龍捲風 Lù Yǐng Fēng (陸穎風)
2004 Mars 戰神Mars Chén Líng (陳零)
Chén Shèng (陳聖)
2006 Silence 深情密碼 Qi Wei Yi (戚偉易)
2007 Sweet Relationship 美味關係 Fang Zhi Tian (方織田)
2008 Wish to See You Again 這裡發現愛 Xu Le (許樂)
2009 Black and White 痞子英雄 Chen Zai Tian (陳在天)
2009 The Last Night of Madam Chin 金大班最後一夜 Sheng Yue Ru (盛月如)
2011 Home 回家 Su Tai Ying (苏台英)

[1] [2]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Vic Chou”. imdb.com. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010. 
  2. ^ “Vic Chou”. chinesemov.com. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]