Coenobita perlatus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Coenobita perlatus
Bernardl'hermitedenis.JPG
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Arthropoda
Phân ngành (subphylum) Crustacea
Lớp (class) Malacostraca
Bộ (ordo) Decapoda
Họ (familia) Coenobitidae
Chi (genus) Coenobita
Loài (species) C. perlatus
Danh pháp hai phần
Coenobita perlatus
H. Milne-Edwards, 1837 [1]

Coenobita perlatus là một loài cua ẩn sĩ trên mặt đất. Đây là loài ăn xác chết phân bố rộng rãi trên khắp Ấn Độ-Thái Bình Dương, và cũng đang được người ta mua bán làm vật nuôi.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Cua trưởng thành có thể phát triển đến chiều dài trung bình 80 mm và khối lượng 80 g, và sống trong vỏ ốc đã bị bỏ đi. Chúng có màu đỏ hoặc màu da cam; điều này đã dẫn đến tên gọi chung của các loài "cua ẩn sĩ dâu tây"[2]. Loài cua ẩn sĩ này là là vật nuôi được ưa thích do chúng không yêu cầu chăm sóc nhiều nhưng rất nổi bật.

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

C. perlatus sinh sống trong một khu vực rộng lớn của Ấn Độ-Thái Bình Dương, từ Mauritius, Seychelles và Aldabra ở phía tây đến Samoa ở phía đông[3]. Ở Úc, loài này có phạm vi phân bố giới hạn đến đảo Christmas, quần đảo Cocos, Great Barrier Reef và Coral Sea Islands Territory.[4]. Trong tự nhiên, chúng có thể sống thọ 25-30 năm, nhưng chỉ sống 1-4 năm trong điều kiện nuôi nhốt.

Sinh thái và hành vi[sửa | sửa mã nguồn]

C. perlatus giữ một nguồn cung cấp nước trong vỏ nó sinh sống. Nó trả về với biển vào ban đêm để làm mới nước của nó, và nó thực hiện cân bằng độ mặn bằng cách lấy số lượng thích hợp của nước biển và nước ngọt[5]. Trong cái nóng trong ngày, nó có thể chôn vùi mình trong cát ẩm ướt như một phương tiện của nhiệt và để tránh mất nước[6]. Nó cũng có thể rút vào vỏ của nó và khép miệng vở bằng móng vuốt của mình.

C. perlatus là một loài ăn xác chết trên thực tế, đến mức mà số lượng ruồi sinh sống bằng động vật thối rữa sinh sản thấp trên nhiều hòn đảo này đã được quy cho sự hiện diện của C. perlatus.[7]. Loài này cũng đã được quan sát để sử dụng móng vuốt của nó véo thịt sống từ Achatina fulica.[8]

Trứng được giữ bên trong vỏ cua cái, nhưng được đẻ vào nước biển.

Lịch sử phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Coenobita perlatus ban đầu được mô tả vào năm 1837 bởi Henri Milne-Edwards, dựa trên các tài liệu từ Mauritius.

Vật nuôi[sửa | sửa mã nguồn]

C. perlatus là hiếm nhất trong số sáu loài thường xuyên được tìm thấy trong ngành thủy sinh làm cảnh.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Patsy McLaughlin. P. McLaughlin, biên tập. Coenobita perlatus H. Milne Edwards, 1837”. World Paguroidea database. World Register of Marine Species. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2010. 
  2. ^ Audrey Pavia (2006). “What is a hermit crab?”. Hermit Crab: Your Happy Healthy Pet (PDF). tr. 13–22. ISBN 978-0-471-79379-3. 
  3. ^ Noelle McKenzie (1999). Coenobita perlatus. Animal Diversity Web. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2010. 
  4. ^ “Species Coenobita perlatus H. Milne Edwards, 1837”. Australian Faunal Directory. Department of the Environment, Water, Heritage and the Arts. Ngày 30 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2010. 
  5. ^ Colin Little (1990). “Life on land”. The terrestrial invasion: an ecophysiological approach to the origins of land animals. Cambridge studies in ecology. Cambridge University Press. tr. 201–246. ISBN 978-0-521-33669-7. 
  6. ^ “Coastal Monsoon”. South Australian Museum. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2010. 
  7. ^ Joseph C. Britton & Brian Morton (1993). “Are there obligate marine scavengers?”. Trong Brian Morton. The marine biology of the South China Sea: proceedings of the First International Conference on the Marine Biology of Hong Kong and the South China Sea, Hong Kong, 28 October-ngày 3 tháng 11 năm 1990, Volume 2. Hong Kong University Press. tr. 357–392. ISBN 978-962-209-355-3. 
  8. ^ P. D. Srivastava (1992). Problem of land snail pests in agriculture: a study of the giant African snail. Concept Publishing Company. tr. 168. ISBN 978-81-7022-435-8. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]