Dưa Triều Tiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Dưa Triều Tiên
Korean melon-Chamoe-01.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiosperms
(không phân hạng)Eudicots
(không phân hạng)Rosids
Bộ (ordo)Cucurbitales
Họ (familia)Cucurbitaceae
Chi (genus)Cucumis
Loài (species)C. melo
Thứ (variety)C. m. var. makuwa
Danh pháp ba phần
Cucumis melo L. ssp. agrestis var. makuwa
Makino (1928)
Danh pháp đồng nghĩa
  • Cucumis melo L. ssp. conomon var. makuwa[1] Kitamura (1950)

Dưa Triều Tiên hay còn gọi là chamoe (tiếng Triều Tiên: 참외)[2], là một loại dưa chủ yếu được trồng ở bán đảo Triều Tiên.[3] Dưa thường dài khoảng 1m (15 cm) và nặng khoảng 1 pound (0,45 kg).[3][4] Nó mịn, thuôn với sọc trắng chạy theo chiều dài thân,[3] thịt trắng, vị ngọt, và khoang hạt chứa đầy hạt nhỏ màu trắng.[3] Mặc dù hầu hết quả dưa Triều Tiên được bán đều có màu vàng, nhưng có nhiều loại màu xanh lá cây hoặc màu ngà. Hương vị đã được miêu tả như là một sự kết hợp giữa dưa bở ruột xanhdưa leo.[3] Quả thường được ăn tươi; với vỏ mỏng và hạt nhỏ, có thể ăn được toàn bộ.[4] Dưa được ăn với một loại gia vị phổ biến ở Hàn Quốc, được gọi là chamoe jangajji.[3]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Các nghiên cứu về sinh học phân tử theo dõi dòng di truyền của cây cho thấy dưa hấu Triều Tiên có thể có nguồn gốc ở Đông Ấn Độ.[3][5][6] Chúng được cho là đã được đưa quaTrung Quốc từ hướng tây thông qua con đường tơ lụa.[3][7]

Sinh thái học[sửa | sửa mã nguồn]

Dưa hấu Triều Tiên sinh trưởng tốt ở khí hậu ôn đới mát mẻ, phát triển tốt nhất với nhiệt độ ban ngày giữa 24 và 28 độ C và nhiệt độ ban đêm giữa 16 và 24 độ C.[3] Dưa đòi hỏi ánh sáng mặt trời nhiều và đất giàu dinh dưỡng, thoát nước tốt, và dễ giữ ẩm.[3] Nó chịu được hạn hán, nhưng đòi hỏi đủ nước để tăng trưởng tối ưu.[3]

Thực vật học[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một cây thảo mộc hàng năm.[3] Cây có gốc và đường cong nhiều lông và đường kính 7mm.[3] Lá có hình reniform (quả thận) với 5-7 thùy.[3] Đây là loài cây vừa có hoa lưỡng tính và vừa có hoa đực cùng một cây(andromonozé) với hoa màu vàng.[3]

Giống[sửa | sửa mã nguồn]

Có hai nhánh chính của dưa là Sunghwan và Gotgam.[8] Dưa Gotgam có mùi thơm của một quả hồng sấy khô.[8] Cả hai nhánh đều chứa nhiều dinh dưỡng và có sức đề kháng bệnh cao hơn các giống khác.[8]

Ý nghĩa văn hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Loài dưa được mệnh danh là kho báu quốc gia.[5][9]

Lễ hội Melon Yeoju Geumsa Oriental được tổ chức mỗi năm một lần, và du khách có thể mua dưa ở đó.[10]

Có một Trung tâm sinh thái dưa Triều Tiên ở Seongju County, được thiết kế để giáo dục công chúng về trồng trọt và các khía cạnh khác của loài dưa này.[11]

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Dưa hấu Triều Tiên cũng được sử dụng làm thức ăn gia súc.[3]

Trong y học dân gian Triều Tiên, trái cây đã được sử dụng cho viêm dạ dày cấp tính, sốt, rối loạn tâm thần, khó thở, vàng da, nghiện rượu, và tăng / tê liệt.[12]

Nghiên cứu cho thấy rằng chiết xuất hexane của hạt có thể được sử dụng như là một cách để kiểm soát bệnh tiểu đường type 2.[13][14]

Gallery[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Cucumis melo (Makuwa Group)”. Edible Medicinal And Non-Medicinal Plants: 219–221. doi:10.1007/978-94-007-1764-0_34. 
  2. ^ http://www.fao.org/fao-who-codexalimentarius/sh-proxy/zh/%3Flnk%3D1%26url%3Dhttps%25253A%25252F%25252Fworkspace.fao.org%25252Fsites%25252Fcodex%25252FMeetings%25252FCX-718-48%25252FWD%25252Fpr48_12e.pdf&sa=U&ved=0ahUKEwjko9zJ6sbMAhXqIMAKHawBAKYQFggOMAM&client=internal-uds-cse&usg=AFQjCNFtpTtgNYvxUnUS5u7SLfjic923tQ
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n Lim, T. K. (2012). “Cucumis melo (Makuwa Group)”. Edible Medicinal and Non-Medicinal Plants. tr. 219. ISBN 978-94-007-1763-3. doi:10.1007/978-94-007-1764-0_34. 
  4. ^ a ă Boerman, Esther (ngày 7 tháng 2 năm 2005). “All about melons”. The Argus-Press (Owosso, Michigan). Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2014. 
  5. ^ a ă “Oriental melon”. Invil Central Council. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2014. 
  6. ^ Kato, K.; Akashi, Y.; Tanaka, K.; Wako, T.; Masuda, M. (2001). “Genetic characterization of east and south Asian melons, Cucumis melo, by the analysis of molecular polymorphisms and morphological characters”. Acta Hort. (ISHS) 588: 217–222. 
  7. ^ Kitamura, S. (1950). “Notes on Cucumis of Far East”. Acta Phytotaxon Geobot 14: 41–44. 
  8. ^ a ă â Park, Inkyu (2013). “Development of SSR markers by next-generation sequencing of Oriental landraces of chamoe (Cucumis melo var. makuwa)”. Molecular Biology Reports 40 (12): 6855–6862. PMID 24096890. doi:10.1007/s11033-013-2803-0. 
  9. ^ “Koreas Treasure No. 114”. SkyNews (Korean Air Lines Co., Ltd.). Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2014. 
  10. ^ “Yeoju Geumsa Oriental Melon Festival (여주 금사참외축제)”. Korea Tourism Organization. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2014. 
  11. ^ “Oriental Melon Ecology Center”. Invil Central Council. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2014. 
  12. ^ Ji-Xian Guo; Takeatsu Kimura; Paul P. H. But; Chung Ki Sung (ngày 1 tháng 1 năm 2001). International Collation of Traditional and Folk Medicine, Vol 4. World Scientific. tr. 64–65. ISBN 978-981-281-035-9. 
  13. ^ Chen, Lei (2013). “In vitro inhibitory effect of oriental melon (Cucumis melo L. var. makuwa Makino) seed on key enzyme linked to type 2 diabetes”. Journal of Functional Foods 5 (2): 981–986. doi:10.1016/j.jff.2013.01.008. 
  14. ^ Chen, Lei (2014). “Roasting processed oriental melon (Cucumis melo L. var. makuwa Makino) seed influenced the triglyceride profile and the inhibitory potential against key enzymes relevant for hyperglycemia”. Food Research International 56: 236–242. doi:10.1016/j.foodres.2013.11.040.