Dậy thì muộn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Dậy thì muộn / dậy thì bị trì hoãn là khi một người thiếu hoặc có sự phát triển không đầy đủ các đặc điểm tình dục cụ thể đã qua tuổi bắt đầu dậy thì thông thường.[1] Người bệnh có thể không có dấu hiệu thể chất hoặc nội tiết tố mà tuổi dậy thì đã bắt đầu. Tại Hoa Kỳ, các bé gái được coi là chậm dậy thì nếu thiếu phát triển vú ở tuổi 13 hoặc chưa bắt đầu kinh nguyệt ở tuổi 16.[1][2] Các bé trai được coi là chậm dậy thì nếu tinh hoàn không to lên ở tuổi 14.[2] Dậy thì muộn ảnh hưởng đến khoảng 2% thanh thiếu niên.[3][4]

Thông thường nhất, dậy thì có thể bị trì hoãn trong vài năm và vẫn diễn ra bình thường, trong trường hợp đó được coi là chậm phát triển cơ thể và dậy thì muộn, một biến thể phổ biến của sự phát triển thể chất lành mạnh.[2] Sự chậm trễ của tuổi dậy thì cũng có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau như suy dinh dưỡng, các bệnh hệ thống khác nhau hoặc khiếm khuyết của hệ thống sinh sản (suy sinh dục) hoặc phản ứng của cơ thể đối với hormone giới tính.[2]

Điều trị ban đầu cho dậy thì muộn không phải do một tình trạng mãn tính liên quan đến đo huyết thanh FSH, LH, testosterone / estradiol, cũng như chụp X quang tuổi xương.[4]

Nếu có một khiếm khuyết vĩnh viễn của hệ thống sinh sản một cách rõ ràng, điều trị thường bao gồm thay thế các hormone thích hợp (testosterone / dihydrotestosterone cho bé trai,[5] estradiolprogesterone cho bé gái).[6]

Thời gian và định nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi dậy thì được coi là chậm trễ khi trẻ chưa bắt đầu dậy thì khi hai độ lệch chuẩn hoặc khoảng 95% trẻ em có hoàn cảnh tương tự.[7][8][9]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b Hoffman, Barbara (2016). Williams Gynecology. McGraw-Hill Education. ISBN 978-0-07-184908-1. Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-format= (gợi ý |name-list-style=) (trợ giúp)
  2. ^ a b c d Ferri, Fred F (ngày 26 tháng 5 năm 2018). Ferri's clinical advisor 2019: 5 books in 1. ISBN 9780323550765. OCLC 1040695302. Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-format= (gợi ý |name-list-style=) (trợ giúp)
  3. ^ Howard SR, Dunkel L (2018). “The Genetic Basis of Delayed Puberty”. Neuroendocrinology (bằng tiếng english). 106 (3): 283–291. doi:10.1159/000481569. PMID 28926843.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  4. ^ a b Klein DA, Emerick JE, Sylvester JE, Vogt KS (tháng 11 năm 2017). “Disorders of Puberty: An Approach to Diagnosis and Management”. American Family Physician. 96 (9): 590–599. PMID 29094880.
  5. ^ Saad RJ, Keenan BS, Danadian K, Lewy VD, Arslanian SA (tháng 10 năm 2001). “Dihydrotestosterone treatment in adolescents with delayed puberty: does it explain insulin resistance of puberty?”. The Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism. 86 (10): 4881–6. doi:10.1210/jc.86.10.4881. PMID 11600557.
  6. ^ Wecker, Lynn (2010). Brody's human pharmacology: molecular to clinical. Elsevier Mosby. ISBN 9780323053747. OCLC 804133604. Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-format= (gợi ý |name-list-style=) (trợ giúp)
  7. ^ Fritz, Marc A; Speroff, Leon (2015). Clinical Gynecologic Endocrinology and Infertility. Lippincott Williams & Wilkins. ISBN 9781451189766. OCLC 885230917. Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-format= (gợi ý |name-list-style=) (trợ giúp)
  8. ^ Adams, Paula J. Hillard (2013). Practical pediatric and adolescent gynecology. Wiley-Blackwell. ISBN 9781118538586. OCLC 929718561. Đã bỏ qua tham số không rõ |name-list-format= (gợi ý |name-list-style=) (trợ giúp)
  9. ^ Traggiai C, Stanhope R (tháng 2 năm 2003). “Disorders of pubertal development”. Best Practice & Research. Clinical Obstetrics & Gynaecology. 17 (1): 41–56. doi:10.1053/ybeog.2003.0360. PMID 12758225.