Dewan Negara
Thượng viện Malaysia Dewan Negara ديوان نڬارا | |
|---|---|
| Quốc hội Malaysia khóa XV | |
| Dạng | |
| Mô hình | |
| Lịch sử | |
| Thành lập | 11 tháng 9 năm 1959 |
| Lãnh đạo | |
Phó Chủ tịch | |
Thư ký | Muhd Sujairi Abdullah Từ 22 tháng 2 năm 2020 |
| Cơ cấu | |
| Số ghế | 70 |
| Chính đảng | Chính phủ (50)
PH (20)
BN (2)
GPS (7)
GRS (4)
Đối lập (8) PN (8)
|
| Ủy ban | 4
|
Nhiệm kỳ | Tối đa 3 năm |
| Trụ sở | |
| Hội trường Thượng viện Nhà Quốc hội Malaysia, Kuala Lumpur, Malaysia | |
| Trang web | |
| Website chính thức | |
Thượng viện Malaysia[1][2] (tiếng Mã Lai: Dewan Negara, n.đ. 'Hội đồng Nhà nước'; Jawi: ديوان نڬارا) là thượng viện của Quốc hội Malaysia. Thượng viện gồm 70 thượng nghị sĩ: 26 bổ nhiệm bởi nghị viện bang, 2 cho mỗi bang và 44 bổ nhiệm bởi quốc vương, 4 cho lãnh thổ liên bang.
Thượng viện xét lại luật đã được thông qua bởi Hạ viện. Cả hai viện họp tại Kuala Lumpur và thống nhất dự luật trước khi đệ trình lên quốc vương công bố. Thượng viện có thể trì hoãn việc thông qua dự luật tối đa 1 năm trước khi đệ trình lên quốc vương.
Ban đầu, Thượng viện được thành lập để giám sát hoạt động Hạ viện và đại diện cho lợi ích của các bang. Tuy nhiên, với hiến pháp ban đầu phần lớn các thượng nghị sĩ bang được bầu đã được sửa đổi do quốc vương bổ nhiệm đa số như hiện nay.
Đại biểu
[sửa | sửa mã nguồn]Các thành viên của Thượng viện được gọi chung là thượng nghị sĩ, "Ahli Thượng viện" (nghĩa là đại biểu của Thượng viện). Nhiệm kỳ là 3 năm thượng nghị sĩ có thể được bổ nhiệm liên tục hoặc không liên tục.
Mỗi hội đồng lập pháp tiểu bang lựa chọn 2 nghị sĩ. Nhà vua bổ nhiệm 2 thượng nghị sĩ cho mỗi vùng lãnh thổ liên bang là Kuala Lumpur, và 1 cho Labuan và Putrajaya theo sự tham vẫn của Thủ tướng.
>40 thượng nghị sĩ không phân biệt tiểu bang được nhà vua bổ nhiệm theo sự tham vấn của Thủ tướng.[3] Thượng nghị sĩ khi được bổ nhiệm phải "đại diện cho lĩnh vực hành chính công hoặc trong nghề nghiệp, thương mại, công nghiệp, nông nghiệp, hoạt động văn hoá hoặc dịch vụ xã hội hoặc được đại diện cho thiểu số chủng tộc hoặc có khả năng đại diện cho quyền lợi của Orang Asli (người bản xứ Mã Lai).
Để trở thành thượng nghị sĩ phải là:
- Công dân Malaysia 30 tuổi
- Không có quốc tịch khác ngoài Malaysia
- Không chịu án tù từ 1 năm hoặc lâu hơn
- Không từng chịu phạt 2000 RM trở lên
- Nắm giữ một chức vụ có lợi nhuận trong các dịch vụ công
Nghị viện có thể tăng thượng nghị sĩ lên 3 phần tiểu bang, giảm số lượng thượng nghị sĩ bổ nhiệm hoặc bãi bỏ chức vụ thượng nghị sĩ hoàn toàn.
Thượng nghị sĩ có thể được bổ nhiệm làm thành viên Nội các do nhà vua bổ nhiệm theo tham vấn của Thủ tướng. Thủ tướng không bao giờ là thành viên của Thượng viện, mà Thủ tướng là thành viên của Hạ viện.
Thượng viện không ảnh hưởng trong cuộc bầu cử của Hạ viện, thượng nghị sĩ tiếp tục đảm nhiệm khi Hạ viện bị giải tán tổ chức tuyển cử mới.
Thượng viện bầu chủ tịch Thượng viện theo nguyên tắc của Thượng viện.
Quyền hạn
[sửa | sửa mã nguồn]Thượng viện có quyền lập dự thảo luật trừ các vấn đề tài chính và ngân sách. Bất kỳ dự luật nào đầu tiên cũng phải thông qua bởi Hạ viện, sau đó được Thượng viện thảo luận trong 3 phiên họp. Tại phiên họp đầu tiên, người đề xuất trình bày dự thảo với hội nghị. Phiên họp thứ 2 dự thảo được tranh luận. Phiên họp thứ 3 biểu quyết bác bỏ hoặc thông qua. Thượng viện có thể không trực tiếp bác bỏ dự thảo, chỉ được phép trì hoãn trong vòng 1 tháng hoặc 1 năm trong hoàn cảnh nhất định.
Sau khi dự thảo được thông qua, sẽ được đệ trình lên nhà vua. Nếu nhà vua tỏ ra quan ngại hoặc trong vòng 30 ngày dự thảo không được thông qua thì sẽ được trả về Nghị viên với đề xuất sửa đổi. Dự thảo này tiếp tục phải được chấp thuận của 2 viện, sau đó tiếp tục đệ trình nhà vua, nếu nhà vua tỏ ra chần chừ không thông qua trong vòng 30 ngày thì dự thảo sẽ trở thành luật. Luật được công bố chính thức tại Công báo chính phủ và có hiệu lực kể từ khi công bố.
Mặc dù thành viên của Nghị viện có quyền miễn truy tố trong khi thảo luận, nhưng có 1 quy tắc bất khả xâm phạm là cấm thảo luận một số điều trong Hiến pháp, như Bahasa Malaysia là quốc ngữ chính hay đặc quyền Bumiputra.[4]
Thành viên hiện tại
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ Hà, Văn (ngày 25 tháng 5 năm 2025). "Chủ tịch Thượng viện Malaysia: Việt Nam là Đối tác Chiến lược toàn diện duy nhất ở châu Á". Báo Điện tử Chính phủ. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
- ^ Dương, Dung (ngày 19 tháng 9 năm 2025). "Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn hội đàm với Chủ tịch Thượng viện Malaysia". Cổng Thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
- ^ Shuid, Mahdi & Yunus, Mohd. Fauzi (2001). Malaysian Studies, p. 33. Longman. ISBN 983-74-2024-3.
- ^ Means, Gordon P. (1991). Malaysian Politics: The Second Generation, pp. 14, 15. Oxford University Press. ISBN 0-19-588988-6.