Di căn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Metastasis
metastatic disease
Metastasis illustration.jpg
Hình minh họa di căn hematogeneous
Phát âm
Chuyên khoa Ung thư học
DiseasesDB 28954
MedlinePlus 002260

Di căn (tiếng Anh: Metastasis) là sự lây lan của bệnh ung thư hoặc các bệnh khác [cần dẫn nguồn] từ một cơ quan hoặc một phần của cơ thể sang một cơ quan khác mà không bị trực tiếp kết nối với nó. Các lần xuất hiện mới của bệnh do đó được tạo ra được gọi là di căn metastases (mets).[1][2]

Ung thư xảy ra sau khi một tế bào đơn lẻ trong mô bị tiến triển về mặt di truyền để tạo tế bào với sự gia tăng không kiểm soát được. Sự gia tăng không kiểm soát bằng cách phân bào tạo ra khối u không đồng nhất chính. Các tế bào tạo thành khối u cuối cùng trải qua metaplasia, tiếp theo là dysplasia sau đó không phát hiện, dẫn đến một kiểu hình ác tính. Sự ác tính này cho phép xâm nhập vào tuần hoàn, tiếp theo là xâm lăng vào vị trí thứ hai để tạo ra khối u.

Một số tế bào ung thư có khả năng xâm nhập vào các thành mạch bạch huyết hoặc mạch máu, sau đó chúng có thể lưu thông qua các mạch máu (tuần hoàn các tế bào khối u) đến các vị trí và mô khác trong cơ thể [cần dẫn nguồn]. Quá trình này được biết đến (tương ứng) như sự lan truyền bạch huyết hoặc hematogenous. Sau khi các tế bào khối u nghỉ ngơi tại một địa điểm khác, chúng sẽ thâm nhập vào các mạch hoặc các bức tường và tiếp tục nhân lên, cuối cùng tạo thành một khối u có thể phát hiện lâm sàng khác [cần dẫn nguồn]. Khối u mới này được biết đến như một khối u di căn (hoặc thứ phát). Di căn là một trong những "dấu hiệu của ung thư", phân biệt nó với các khối u lành tính.[3] Hầu hết các khối u đều có thể di căn, mặc dù ở những mức độ khác nhau (ví dụ, ung thư biểu mô tế bào đáy hiếm khi di căn)

Khi các khối u di căn, khối u mới được gọi là khối u thứ phát hoặc di căn, và các tế bào của nó tương tự như khối u ban đầu hoặc u nguyên phát. Điều này có nghĩa, ví dụ, nếu ung thư vú di căn sang phổi, khối u thứ phát được tạo thành từ các tế bào vú không bình thường, không phải các tế bào phổi bất thường. Khối u ở phổi được gọi là ung thư vú di căn, không phải ung thư phổi. Di căn là một yếu tố quan trọng trong hệ thống xếp dỡ ung thư như hệ thống dàn dựng TNM, nơi nó đại diện cho "M". Trong quá trình phân nhóm giai đoạn trên, giai đoạn IV là giai đoạn ung thư. Khả năng điều trị chữa trị được giảm đáng kể, hoặc thường bị loại bỏ hoàn toàn, khi ung thư di căn.

Các dấu hiệu và triệu chứng[sửa | sửa mã nguồn]

Cắt bề mặt của gan cho thấy nhiều nốt sạm màu nhạt xuất phát từ ung thư tuyến tụy.

Ban đầu, các hạch bạch huyết gần đó bị tấn công sớm. Phổi, gan, não và xương là các vị trí di căn phổ biến nhất từ những khối u rắn.[4]

Trong các hạch bạch huyết, một triệu chứng thông thường là hạch lympho

  • Phổi: ho, xuất huyết và khó thở (hụt hơi)[4]
  • Gan: gan to, buồn nôn và vàng da [4]
  • Xương: đau xương, gãy xương bị tổn thương[4]
  • Não: các triệu chứng thần kinh như nhức đầu,[4] động kinh, và chóng mặt.[4]

Mặc dù ung thư tiên tiến có thể gây ra đau, nhưng thường không phải là triệu chứng đầu tiên.

Tuy nhiên, một số bệnh nhân không biểu hiện bất kỳ triệu chứng nào. [4] Khi cơ quan bị một căn bệnh di căn, nó bắt đầu co lại cho đến khi các hạch bạch huyết của nó vỡ ra, hoặc trải qua sự phân li.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Klein CA (tháng 9 năm 2008). “Cancer. The metastasis cascade”. Science 321 (5897): 1785–7. PMID 18818347. doi:10.1126/science.1164853. 
  2. ^ Chiang AC, Massagué J (tháng 12 năm 2008). “Molecular basis of metastasis”. The New England Journal of Medicine 359 (26): 2814–23. PMC 4189180. PMID 19109576. doi:10.1056/NEJMra0805239. 
  3. ^ Kumar, Vinay; Abbas, Abul K; Fausto, Nelson; Robbins, Stanley L; Cotran, Ramzi S (2005). Robbins and Cotran pathologic basis of disease (ấn bản 7). Philadelphia: Elsevier Saunders. ISBN 978-0-7216-0187-8. 
  4. ^ a ă â b c d National Cancer Institute: Metastatic Cancer: Questions and Answers. Truy cập 2008-11-01