Emirate of Transjordan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Emirates of Transjordan (tiếng Ả rập: إمارة رق الردن Imārat Sharq al-Urdun tiếng Việt: Tiểu Vương quốc Transjordan Sau thất bại của Đế Chế Ottoman trong Thế chiến nhất, Transjordan trở thành một phần của OETA East; sau khi Anh rút quân này đã trở thành Vương quốc Ả Rập Syria do Hashemite cai trị. Nó trở thành vùng đất không có người đàn ông sau Trận Maysalun tháng 7 năm 1920, [2] [3] và người Anh ở Palestine bắt buộc đã chọn để tránh "bất kỳ mối liên hệ nhất định nào giữa nó và Palestine" [4] cho đến một hội nghị tháng 3 năm 1921 đã đồng ý rằng Abdullah bin Hussein sẽ quản lý lãnh thổ dưới sự bảo trợ của Phái bộ Anh cho Palestine với một hệ thống cai trị hoàn toàn tự trị. Triều đại Hashemite cai trị vùng bảo hộ, cũng như Iraq bắt buộc láng giềng. Vào ngày 25 tháng 5 năm 1946, tiểu vương quốc này trở thành "Vương quốc Hashemite của Transjordan", giành được độc lập hoàn toàn vào ngày 17 tháng 6 năm 1946 khi theo các Hiệp ước phê chuẩn Luân Đôn được trao đổi tại Amman. Năm 1949, nó được hiến pháp đổi tên thành "Vương quốc Hashemite của Jordan", thường được gọi là Jordan.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]