Eomaia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Eomaia
Thời điểm hóa thạch: Đầu kỷ Creta, 125 triệu năm trước đây

Lỗi biểu thức: Dư toán tử <


Eomaia.jpg
Mẫu vật hóa thạch CAGS 01−IG−1
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Nhánh (clade) Eutheria
Chi (genus)Eomaia
Ji et al., 2002
Loài điển hình
Eomaia scansoria
Ji et al., 2002

Eomaia ("mẹ bình minh") là một chi động vật có vú tuyệt chủng gồm một loài duy nhất, Eomaia scansoria, được phát hiện trong lớp đá của thành hệ Yixian, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc, vào cuối kỷ Creta khoảng 125 triệu năm về trước.[1] Mẫu vật hóa thạch duy nhất của nhất của loài này dài 10 xentimét (3,9 in) và gần như hoàn chỉnh. Cân nặng được ước tính là khoảng 20–25 gam (0,71–0,88 oz). Với một mẫu vật 125 triệu năm tuổi, hóa thạch này được bảo quản tốt một cách khác thường. Mặc dù hộp sọ bị ép dẹp, răng, các xương chân, sụn và thậm chí bộ lông khá rõ ràng.[1]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Phục dựng

Hóa thạch Eomaia cho thấy các vết tích rõ ràng của lông.[1] Đây không phải vết tích lông động vật có vú cổ nhất, hóa thạch Volaticotherium,[2]Docodonta Castorocauda, phát hiện trong lớp đá cách nay 164 triệu năm về trước, cũng có các vết tích của lông.[3]

Eomaia scansoria sở hữu nhiều đặc điểm chung với Placentalia (động vật có vú nhau thai) tách chúng khỏi Metatheria - nhóm gồm thú có túi hiện đại. Tuy nhiên E. scansoria không phải động có vú nhau thai thực sự vì nó thiếu vài đặc điểm chuyên biệt hóa của Placentalia.

Eomaia, giống như các loài động vật có vú cổ và thú có túi, có khung chậu hẹp cho thấy con non chưa phát triển con phải chăm sóc nhiều hơn.[4] Xương epipubic kéo dài về phía trước từ khung chậu;[1] các điểm này không xuất hiện ở thú có nhau, nhưng xuất hiện ở các động vật có vú khác, bao gồm Eutheria không nhau, thú có vú, thú đơn huyệt và các động vật có vú Đại Trung Sinh cũng như Cynodontia therapsida gần gũi với động vật có vú. Chức năng của chúng là để làm cũng có chuyển động cơ thể khi chuyển động.[5] Sự cũng cố này có thể gây tổn thương có con non khi sinh đẻ.[6]

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ xương phục dựng

Người phát hiện Eomaia cho rằng, trên cơ sở 268 mẫu đặc điểm của tất cả các nhánh động vật có vú Đại Trung Sinh và các họ Eutheria chính vào kỷ Creta, Eomaia nên được đặt cào cuối "cây gia đình" Eutheria cùng với with MurtoilestesProkennalestes.[1] Sơ đồ phân loại ban đầu này được tóm tắt như sau:

Theria

Metatheria


Sinodelphys szalayi



Cainozoic metatheria



Eutheria


Juramaia sinensis



Montanalestes keeblerorum




Murtoilestes abramovi



Eomaia scansoria



Prokennalestes trofimovi




Cainozoic placentalia




Phục dựng Eomaia đang ăn côn trùng Cretophasmomima

Năm 2013, nghiên cứu mối quan hệ của động vật có vú rộng hơn (bao gồm các loài hóa thạch) công bố bởi Maureen O'Leary và đồng nghiệp.[7] Nghiên cứu này, đã xem xét 4541 đặc điểm giải phẫu của 86 loài động vật có vú (gồm Eomaia scansoria), tìm ra rằng Eomaia không thể là Eutheria hay Placentalia như từng được cho.[7] Kết quả của nghiên cứu này được tóm tắt thành cây phát sinh loài bên dưới:

Mammalia


Monotremata





Henkelotherium guimarotae



Zhangheotherium quinquecuspidens





Eomaia scansoria



Theria





Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Ji, Q., Luo, Z-X., Yuan, C-X.,Wible, J.R., Zhang, J-P.,and Georgi, J.A. (tháng 4 năm 2002). “The earliest known eutherian mammal” (PDF). Nature 416 (6883): 816–822. PMID 11976675. doi:10.1038/416816a. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2008. 
  2. ^ Meng, J., Hu, Y., Wang, Y., Wang, X., Li, C. (tháng 12 năm 2006). “A Mesozoic gliding mammal from northeastern China”. Nature 444 (7121): 889–893. PMID 17167478. doi:10.1038/nature05234. 
  3. ^ Ji, Q.; Luo, Z-X, Yuan, C-X, and Tabrum, A.R. (tháng 2 năm 2006). “A Swimming Mammaliaform from the Middle Jurassic and Ecomorphological Diversification of Early Mammals”. Science 311 (5764): 1123–7. PMID 16497926. doi:10.1126/science.1123026. 
  4. ^ Weil, A. (tháng 4 năm 2002). “Mammalian evolution: Upwards and onwards”. Nature 416 (6883): 798–799. PMID 11976661. doi:10.1038/416798a. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2008. 
  5. ^ Reilly, S.M., and White, T.D. (tháng 1 năm 2003). “Hypaxial Motor Patterns and the Function of Epipubic Bones in Primitive Mammals”. Science 299 (5605): 400–402. PMID 12532019. doi:10.1126/science.1074905. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2008. 
  6. ^ Novacek, M.J., Rougier, G.W, Wible, J.R., McKenna, M.C, Dashzeveg, D.,and Horovitz, I. (tháng 10 năm 1997). “Epipubic bones in eutherian mammals from the Late Cretaceous of Mongolia”. Nature 389 (6650): 483–486. PMID 9333234. doi:10.1038/39020. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2008. 
  7. ^ a ă O'Leary, M. A.; Bloch, J. I.; Flynn, J. J.; Gaudin, T. J.; Giallombardo, A.; Giannini, N. P.; Goldberg, S. L.; Kraatz, B. P.; Luo, Z.-X.; Meng, J.; Ni, X.; Novacek, M. J.; Perini, F. A.; Randall, Z. S.; Rougier, G. W.; Sargis, E. J.; Silcox, M. T.; Simmons, N. B.; Spaulding, M.; Velazco, P. M.; Weksler, M.; Wible, J. R.; Cirranello, A. L. (2013). “The Placental Mammal Ancestor and the Post-K-Pg Radiation of Placentals”. Science 339 (6120): 662–667. PMID 23393258. doi:10.1126/science.1229237. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]