Bước tới nội dung

General Electric GE90

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
GE90
GE90-115B
Kiểu Động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt
Quốc gia chế tạo  Hoa Kỳ
Lược sử hoạt động
Lắp đặt chủ yếu trong Boeing 777
Lược sử chế tạo
Nhà sản xuất GE Aerospace
Lần chạy đầu tiên Tháng 3 năm 1993[1]
Chế tạo 1993–nay
Số lượng chế tạo 2.800 (tháng 7 năm 2020)[2]
Phát triển thành

General Electric GE90 là một dòng động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt luồng phụ lớn được GE Aerospace chế tạo cho Boeing 777, với các mức lực đẩy từ 81.000 đến 115.000 lbf (360 đến 510 kN). Động cơ được đưa vào khai thác với British Airways vào tháng 11 năm 1995. Đây là một trong ba lựa chọn động cơ cho 777-200 và -200ER, đồng thời là động cơ duy nhất được trang bị cho -200LR, -300ER và 777F. GE90 từng là động cơ phản lực lớn nhất thế giới,[3] cho đến khi bị thế hệ kế nhiệm là GE9X vượt qua vào tháng 1 năm 2020. GE9X có đường kính quạt lớn hơn GE90 6 in (15 cm). Tuy nhiên, GE90-115B, biến thể mới nhất của GE90, có mức lực đẩy định mức cao hơn GE9X, đạt 115.000 lb (510 kN).

Bối cảnh

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào đầu những năm 1980, GE bắt đầu phát triển một loại động cơ có quạt hở (UDF), được cho là một lựa chọn tiết kiệm nhiên liệu hơn cho các máy bay chở khách đường ngắn, đặc biệt hấp dẫn sau khủng hoảng dầu mỏ năm 1979. NASA đã cấp kinh phí cho GE vào tháng 2 năm 1984 để tiếp tục nghiên cứu, và cuối cùng GE đã chế tạo động cơ thử nghiệm GE36. Một trong những cải tiến quan trọng của động cơ là các cánh quạt làm từ vật liệu composite sợi carbon, vừa nhẹ hơn vừa bền hơn các vật liệu truyền thống.[4] Tuy nhiên, UDF có độ tin cậy thấp hơn các động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt cùng thời; trong khi đó, chi phí nhiên liệu giảm khiến việc phát triển động cơ trở nên kém hấp dẫn về mặt kinh tế, và GE lo ngại GE36 sẽ cạnh tranh trực tiếp với doanh số của động cơ CFM56 rất thành công mà hãng đã đồng phát triển với Snecma của Pháp.[4]

Phát triển

[sửa | sửa mã nguồn]
Động cơ GE90-115B có đường kính quạt 128 in (325 cm). Kích thước này tương đương với chiều rộng thân máy bay Boeing 737 là 148 in (376 cm) và Airbus A320 là 156 in (396 cm). Trong khi đó, đường kính thân Boeing 777, dòng máy bay mà động cơ này được thiết kế để trang bị, là 244 in (620 cm).

Động cơ GE90 được khởi động vào năm 1990 nhằm cung cấp một động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt luồng phụ lớn cho Boeing 777, một dòng máy bay phản lực chở khách hai động cơ, thân rộng và tầm bay xa.[5] GE Aviation hợp tác với Snecma (Pháp, 24%), IHI (Nhật Bản) và Avio (Ý) trong chương trình này.[6] GE90 phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt khi Pratt & WhitneyRolls-Royce cũng cung cấp động cơ cho 777, lần lượt là PW4000Trent 800.

Cải tiến quan trọng nhất của GE90 là việc sử dụng 22 cánh quạt bằng vật liệu composite sợi carbon, một công nghệ lần đầu được phát triển cho GE36. Những cánh quạt này có độ bền gấp đôi nhưng chỉ nặng bằng một phần ba so với các cánh quạt bằng titani truyền thống. 22 cánh quạt là một sự giảm đáng kể so với 38 cánh được sử dụng trên động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt luồng phụ lớn trước đó của GE là CF6, mặc dù đường kính của GE90 lớn hơn 30 in (760 mm). Việc giảm số lượng cánh quạt giúp giảm khối lượng động cơ và cải thiện hiệu suất khí động học.

Do phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trong việc trang bị động cơ cho các phiên bản 777 thế hệ đầu tiên (777-200 và 777-200ER), GE tìm cách mở rộng việc sử dụng GE90 trên các dòng máy bay khác. Brian H. Rowe, khi đó là giám đốc điều hành của GE, thậm chí đề nghị chi trả chi phí phát triển phiên bản GE90 dành cho Airbus A330, nhưng Airbus đã từ chối kế hoạch này và thay vào đó tập trung vào dòng A340 bốn động cơ cho thị trường đường dài.[7]

Vào cuối những năm 1990, Boeing bắt đầu phát triển các phiên bản 777 tầm xa thế hệ thứ hai (777-200LR, 777-300ER và 777F). Đối với những máy bay này, cần một động cơ mạnh hơn thuộc nhóm lực đẩy 100.000 lbf (440 kN), dẫn đến các cuộc đàm phán giữa Boeing và các nhà sản xuất động cơ. General Electric đề xuất phát triển động cơ GE90-115B,[8] trong khi Rolls-Royce đề xuất phát triển động cơ Trent 8104.[9] Năm 1999, Boeing công bố thỏa thuận với General Electric, qua đó đánh bại các đề xuất của đối thủ.[8] Theo thỏa thuận với General Electric, Boeing đồng ý chỉ cung cấp động cơ GE90 trên các phiên bản 777 mới.[8] GE90-115B thực hiện lần chạy thử đầu tiên tại cơ sở của GE ở Peebles, Ohio, vào tháng 11 năm 2001.[10]

Thiết kế

[sửa | sửa mã nguồn]
Một động cơ GE90-94B nguyên bản đang được khai thác trên Boeing 777-200ER của Pakistan International Airlines

Máy nén cao áp 10 tầng của GE90 đạt tỷ số nén 23:1, khi đó là một kỷ lục trong ngành, và được dẫn động bởi tua bin cao áp 2 tầng, làm mát bằng không khí. Máy nén hạ áp 3 tầng, nằm ngay phía sau quạt, cung cấp khí nén bổ sung cho lõi động cơ. Tua bin hạ áp 6 tầng dẫn động quạt/máy nén hạ áp.

Các biến thể có lực đẩy cao hơn, GE90-110B1 và -115B, có cấu trúc khác với các phiên bản GE90 trước đó. General Electric trang bị một quạt có đường kính lớn hơn, được chế tạo từ vật liệu composite tiên tiến, giúp tăng lực đẩy ở tốc độ bay thấp. Tuy nhiên, GE cũng cần tăng công suất lõi động cơ để cải thiện lực đẩy thực ở tốc độ bay cao. Vì vậy, GE đã lựa chọn tăng công suất lõi bằng cách loại bỏ một tầng ở phía sau máy nén cao áp và bổ sung một tầng cho máy nén hạ áp. Điều này bù đắp nhiều hơn cho sự suy giảm tỷ số áp suất của máy nén cao áp và giúp tăng lưu lượng khối qua lõi động cơ.[11]

Các biến thể GE90 có lực đẩy cao hơn là những động cơ sản xuất hàng loạt đầu tiên được trang bị các cánh rotor có độ quét. Vỏ động cơ có đường kính tối đa 166 in (4.200 mm).[12] Mỗi trong số 22 cánh quạt trên GE90-115B dài 4 ft (1,2 m) và có khối lượng dưới 50 lb (23 kg).[13]

Lịch sử khai thác

[sửa | sửa mã nguồn]
Một động cơ GE90-115B

Là một trong ba động cơ được cung cấp cho dòng máy bay Boeing 777 hai động cơ thân rộng hoàn toàn mới, GE90 là một thiết kế hoàn toàn mới trị giá 2 tỷ USD, trái ngược với các sản phẩm của Pratt & WhitneyRolls-Royce, vốn là những phiên bản cải tiến từ các động cơ hiện có.[14]

Chiếc Boeing 777 đầu tiên được trang bị động cơ General Electric được bàn giao cho British Airways vào ngày 12 tháng 11 năm 1995.[15] Chiếc máy bay này, được trang bị hai động cơ GE90-77B, bắt đầu khai thác thương mại năm ngày sau đó. Hoạt động khai thác ban đầu bị ảnh hưởng bởi những lo ngại về sự mài mòn ổ trục của hộp số, khiến hãng hàng không tạm thời rút đội bay 777 khỏi các đường bay xuyên Đại Tây Dương vào năm 1997. Máy bay của British Airways trở lại khai thác đầy đủ vào cuối năm đó.[16]

Các vấn đề trong quá trình phát triển và thử nghiệm GE90 đã gây ra sự chậm trễ trong quá trình chứng nhận của FAA. British Airways sau đó nhanh chóng thay thế GE90 bằng Rolls-Royce Trent 800 trên các máy bay 777 của mình. Ngoài ra, mức lực đẩy cao hơn của GE90 khi đó chưa phải là yêu cầu cần thiết đối với các hãng hàng không, trong khi đây cũng là động cơ nặng nhất trong ba lựa chọn, khiến nó trở thành lựa chọn ít phổ biến nhất trên các máy bay 777 thế hệ đầu (777-200 và 777-200ER, còn được gọi là 777 Classic), trong khi động cơ Rolls-Royce là lựa chọn phổ biến nhất.[14][17]

Đối với các phiên bản 777 đường dài thế hệ thứ hai của Boeing (777-200LR, 777-300ER và 777F), cần lực đẩy lớn hơn để đáp ứng các yêu cầu của máy bay. General Electric và Pratt & Whitney yêu cầu một hợp đồng theo hình thức được ăn cả, ngã về không do khoản đầu tư 500 triệu USD cần thiết để cải tiến động cơ nhằm đáp ứng các yêu cầu này, theo đó GE nhận được quyền trở thành nhà cung cấp động cơ duy nhất.[14][17] Phiên bản cải tiến bắt đầu được đưa vào khai thác với Air France vào tháng 5 năm 2004.[18]

Các động cơ GE90-110B1 và -115B có lực đẩy cao hơn, kết hợp với các phiên bản 777 thế hệ thứ hai là -200LR và -300ER, là những lý do chính khiến doanh số 777 vượt qua đối thủ A340.[19] Việc sử dụng hai động cơ mang lại lợi thế về chi phí khai thác điển hình khoảng 8–9% cho -300ER so với A340-600.[20] 777-300ER cũng được xem là sản phẩm thay thế cho 747-400 trong bối cảnh giá nhiên liệu tăng cao, nhờ mức tiêu thụ nhiên liệu thấp hơn 20%.[21]

Trước khi bị biến thể phát triển GE9X vượt qua, dòng GE90 giữ danh hiệu động cơ lớn nhất trong lịch sử hàng không. Đường kính quạt của dòng GE90 nguyên bản là 123 in (310 cm), trong khi biến thể lớn nhất GE90-115B có đường kính quạt 128 in (330 cm). Do đó, động cơ GE90 chỉ có thể được vận chuyển bằng đường hàng không sử dụng các máy bay chở hàng quá khổ như Antonov An-124, hạn chế các phương án vận chuyển nếu một chiếc 777 bị mắc kẹt do phải chuyển hướng khẩn cấp và cần thay động cơ. Nếu tháo quạt và vỏ quạt, động cơ có thể được vận chuyển bằng 747 Freighter.[22]

Biến thể -94B dành cho -200ER được trang bị bổ sung một số linh kiện đầu tiên được FAA phê duyệt sản xuất bằng công nghệ in 3D.[23]

Năm 2011, giá niêm yết của động cơ là 27,5 triệu USD và tỷ lệ tắt động cơ giữa chuyến bay là một lần trên mỗi một triệu giờ bay động cơ.[3] Đến tháng 11 năm 2015, GE90 đã tích lũy hơn 8 triệu chu kỳ và 50 triệu giờ bay trong 20 năm.[24] Vào tháng 7 năm 2020, đội bay gồm 2.800 động cơ đã vượt mốc 100 triệu giờ bay, cung cấp động lực cho hơn 1.200 máy bay thuộc 70 hãng khai thác, với tỷ lệ tin cậy khai thác đạt 99,97%.[2] Một lần đại tu toàn bộ động cơ có chi phí hơn 12 triệu USD.[25]

Các kỷ lục

[sửa | sửa mã nguồn]
Động cơ GE90 không có vỏ bao ngoài
Động cơ GE90-115B có lực đẩy cao hơn được lắp trên N747GE, máy bay Boeing 747 thử nghiệm của GE

Động cơ GE90-115B có đủ lực đẩy để đưa N747GE, chiếc Boeing 747-100 được GE sử dụng làm máy bay thử nghiệm bay, cất cánh và bay với ba động cơ còn lại ở chế độ không tải; khả năng này đã được chứng minh trong một chuyến bay thử nghiệm.[26][27]

Theo Sách Kỷ lục Guinness, với lực đẩy 127.900 lbf (569 kN), động cơ từng giữ kỷ lục về lực đẩy cao nhất đạt được bởi một động cơ máy bay (lực đẩy tối đa của động cơ khi khai thác là mức lực đẩy định mức 115.300 lbf (513 kN)). Kỷ lục lực đẩy này đạt được ngoài dự kiến trong một cuộc thử nghiệm độ bền động cơ kéo dài một giờ, trong đó động cơ được vận hành ở ba giới hạn tối đa, sử dụng một động cơ phát triển GE90-115B tại khu thử nghiệm ngoài trời của GE gần Peebles, Ohio. Thành tích này đã vượt qua kỷ lục Guinness trước đó của chính động cơ, ở mức 122.965 lbf (546,98 kN).[28] Ngày 10 tháng 11 năm 2017, thế hệ kế nhiệm của nó là GE9X đã đạt mức lực đẩy kỷ lục cao hơn, 134.300 lbf (597 kN), tại Peebles.

Tải thiết kế ban đầu của trục quạt GE90 đã được tăng lên đáng kể để đáp ứng mô-men xoắn khi khai thác và điều kiện mất cánh quạt. Để đáp ứng sự gia tăng ứng suất xoắn và uốn trên trục quạt, cần sử dụng hợp kim thép GE1014, một loại vật liệu trước đó chưa từng được sử dụng trong động cơ máy bay. Một khớp nối then hoa trên trục quạt dài hơn đáng kể cũng được yêu cầu, trong khi việc duy trì độ chính xác gia công cao theo yêu cầu là một thách thức.[29][30]

Vào tháng 10 năm 2003, Boeing 777-300ER với động cơ GE90-115B trở thành cấu hình máy bay/động cơ đầu tiên được chứng nhận ETOPS 330. Điều này cho phép thực hiện các đường bay mà thời gian bay đến sân bay gần nhất, trong điều kiện một động cơ ngừng hoạt động, có thể lên tới năm giờ rưỡi (330 phút).[31] Chiếc máy bay này, được trang bị động cơ GE90-115B, đã bay từ Seattle đến Đài Loan trong khuôn khổ chương trình chứng nhận ETOPS này, với một động cơ được tắt trong 330 phút trong chuyến bay kéo dài khoảng 13 giờ.

Ngày 10 tháng 11 năm 2005, GE90 lần thứ hai được ghi danh vào Sách Kỷ lục Guinness. GE90-110B1 đã trang bị cho một chiếc 777-200LR thực hiện chuyến bay dài nhất thế giới của một máy bay chở khách thương mại, mặc dù không có hành khách trả tiền; trên máy bay chỉ có các nhà báo và khách mời. Chiếc 777-200LR đã bay 13.423 mi (21.602 km) trong 22 giờ 22 phút, từ Hồng Kông đến Luân Đôn theo "đường vòng": bay qua Thái Bình Dương, qua lục địa Hoa Kỳ, sau đó vượt Đại Tây Dương đến Luân Đôn.[32]

Ngày 11 tháng 8 năm 2004, một động cơ GE90-85B trang bị trên Boeing 777-200ER của British Airways, thực hiện chuyến bay 2024, gặp sự cố động cơ khi cất cánh từ Sân bay liên lục địa George BushHouston, Texas. Phi công nhận thấy tiếng ồn và rung động trong quá trình cất cánh nhưng vẫn tiếp tục nâng mũi máy bay. Ở độ cao 1.500 ft so với mặt đất, họ nhận thấy khói và màn khói mờ trong buồng lái, trong khi tiếp viên thông báo rằng khoang hành khách đang đầy khói. Máy bay quay trở lại sân bay để hạ cánh khẩn cấp. Điều tra xác định một cánh tua bin tầng 2 đã bị tách tại phần chân cánh, làm hư hỏng các cánh phía sau và gây ra rung động. Các mảnh vỡ vẫn được giữ lại bên trong vỏ động cơ.[33]

Ngày 28 tháng 5 năm 2012, một chiếc Boeing 777-300ER của Air Canada đang cất cánh từ Toronto để bay đến Tokyo gặp sự cố động cơ GE90-115B ở độ cao 1.500 ft (460 m) và quay trở lại an toàn. Các mảnh vỡ của động cơ được tìm thấy trên mặt đất.[34][35]

Ngày 8 tháng 9 năm 2015, một động cơ GE90-85B trang bị trên Boeing 777-236ER của Chuyến bay 2276 của British Airways gặp sự cố hỏng động cơ trong quá trình chạy đà cất cánh tại Sân bay McCarranLas Vegas, dẫn đến hỏa hoạn.[36][37]

Ngày 27 tháng 6 năm 2016, một động cơ GE90-115B trang bị trên Boeing 777-300ER của Singapore Airlines, thực hiện chuyến bay 368, phát cảnh báo dầu động cơ trong khi bay và quay trở lại Sân bay Changi Singapore. Khi hạ cánh, động cơ bên phải gặp trục trặc đã bốc cháy, gây hư hỏng cho động cơ và cánh máy bay.[38]

Hỏng hộp số truyền động

[sửa | sửa mã nguồn]

FAA ban hành Chỉ thị khả phi (AD) vào ngày 16 tháng 5 năm 2013 và gửi đến các chủ sở hữu và đơn vị khai thác động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt GE90-110B1 và GE90-115B của General Electric. Chỉ thị khẩn cấp này được ban hành sau khi có báo cáo về hai trường hợp hỏng cụm hộp số truyền động, dẫn đến việc động cơ phải ngừng hoạt động trên không. Điều tra cho thấy nguyên nhân hỏng hóc là do bánh răng hướng tâm của hộp số truyền động bị nứt và tách rời.[39] Các cuộc kiểm tra tiếp theo phát hiện thêm hai bánh răng hướng tâm có vết nứt. Nếu không được khắc phục, tình trạng này có thể dẫn đến thêm các trường hợp ngừng hoạt động trên không trên một hoặc nhiều động cơ, mất khả năng kiểm soát lực đẩy và gây hư hỏng cho máy bay. Chỉ thị khả phi yêu cầu thực hiện các biện pháp khắc phục trong vòng năm ngày kể từ khi nhận được chỉ thị. Tất cả các mô-đun bị ảnh hưởng đã được thay thế.[40]

Thông số kỹ thuật

[sửa | sửa mã nguồn]
GE90-94B (Boeing 777-200ER), với các cánh quạt thẳng
GE90-110B1 (Boeing 777-200LR), với các cánh quạt cong
Bảng dữ liệu[41] Chứng nhận kiểu loại GE90[42]
Biến thể -76B/-77B/-85B/-90B/-94B -110B1/-113B/-115B
Loại Động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt luồng phụ lớn hai trục kiểu dòng chảy hướng trục
Máy nén 1 quạt, hạ áp 3 tầng, cao áp 10 tầng 1 quạt, hạ áp 4 tầng, cao áp 9 tầng[43]
Tua bin cao áp 2 tầng, hạ áp 6 tầng
Chiều dài[a] 286,9 in (7,29 m) 286,67 in (7,281 m)
Chiều rộng 152,4 in (3,87 m) 148,38 in (3,769 m)
Chiều cao 155,6 in (3,95 m) 154,56 in (3,926 m)
Đường kính quạt[44] 123 in (3,1 m) 128 in (3,3 m)
Khối lượng khô 17.400 lb (7.893 kg) 19.316 lb (8.762 kg)
Lực đẩy cất cánh 81.070–97.300 lbf (360,6–432,8 kN) 110.760–115.540 lbf (492,7–513,9 kN)[b]
Tốc độ rotor hạ áp 2.261,5 vòng/phút 2.355 vòng/phút
Tốc độ rotor cao áp 9.332 vòng/phút
Lưu lượng khối lượng không khí

Tĩnh: 1.350 kg/s[41]
Hành trình: 576 kg/s[41]

Lực đẩy riêng

Tĩnh: 278,1 m/s2[41]
Hành trình: 120,1 m/s2[41]

Tỷ số luồng phụ[6] 8,4–9 9
Tỷ số nén[43] 40:1 42:1
Tỷ lệ lực đẩy trên khối lượng 5,59 5,98
TSFC (cất cánh) 0,278 lb/lbf/h (7,9 g/kN/s)[45]
TSFC (hành trình) 0,545 lb/lbf/h (15,4 g/kN/s) (-76B)[46] (-85B)[47]
hoặc 0,520 lb/lbf/h (14,7 g/kN/s) (-85B)
[46][48]

Các biến thể phát triển

[sửa | sửa mã nguồn]

Động cơ GEnx, được phát triển cho Boeing 787 Dreamliner747-8, được phát triển dựa trên một biến thể có lõi nhỏ hơn của GE90 và cũng có các cánh rotor vuốt ngược.

GE Aviation thành lập một liên doanh hợp tác với Pratt & Whitney mang tên Engine Alliance, theo đó hai công ty đã phát triển một động cơ cho Airbus A380, mang tên GP7000, dựa trên lõi GE90-110B/115B được thu nhỏ theo tỷ lệ lưu lượng 0,72.

Vào tháng 2 năm 2012, GE công bố các nghiên cứu về một biến thể phát triển có hiệu suất cao hơn 10%, được đặt tên là GE9X, để trang bị cho dòng Boeing 777X mới.

LM9000 là một động cơ tuốc bin khí được phát triển từ động cơ hàng không, có hai tùy chọn: LM9000 không phun bổ sung nước, cho công suất 66 MW (89.000 hp) với hiệu suất 42,4% trước khi đồng phát, và LM9000 có phun bổ sung nước, cho công suất 75 MW (101.000 hp) với hiệu suất 42,7% trước khi đồng phát.[49] Tỷ số nén 33:1 của động cơ đạt được nhờ một máy nén hạ áp 4 tầng, tiếp nối bởi máy nén cao áp 9 tầng, được dẫn động bởi tua bin cao áp 2 tầng và tua bin hạ áp 1 tầng; tua bin hạ áp này lần lượt dẫn động một tua bin tự do 4 tầng.[50]

  1. Từ chóp xoay của quạt đến tâm thân vòi phun
  2. Kỷ lục thế giới được thiết lập ở mức 127.900 lbf (569 kN) trong thử nghiệm ở độ cao 827 feet (252 m) trên mực nước biển[28]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Brian J. Cantwell (ngày 2 tháng 2 năm 2010). "The GE90 – An Introduction" (PDF). Stanford University. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2016.
  2. 1 2 "GE90 engine surpasses 100 million hours" (Thông cáo báo chí). GE Aviation. ngày 24 tháng 7 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020.
  3. 1 2 "Record Year For The World's Largest, Most Powerful Jet Engine" (Thông cáo báo chí). GE Aviation. ngày 19 tháng 1 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2019.
  4. 1 2 Sweetman, Bill (tháng 9 năm 2005). "The Short, Happy Life of the Prop-fan". Smithsonian. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2017.
  5. "First Year in Service for GE90 a Huge Success" (Thông cáo báo chí). GE Aviation. ngày 18 tháng 11 năm 1996. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2017.
  6. 1 2 "commercial aircraft engines -GE90" (PDF). Snecma. Safran. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016.
  7. Scott Hamilton (ngày 14 tháng 12 năm 2017). "Top Airbus officials scoffed at Leahy's 50% market share goal". Leeham. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2017.
  8. 1 2 3 "A question of choice". Flight International. ngày 3 tháng 1 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2009.
  9. "Aero-Engines – Rolls-Royce Trent". Jane's Transport Business News. ngày 13 tháng 2 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2009.
  10. "Full GE90 tests get under way". Flight Global (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2020.
  11. "The GE90:ge aviations greatest comeback story". The GE Aviation Blog | Aerospace & Flight News. GE Aviation. ngày 2 tháng 12 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2020.
  12. Dominic Gates (ngày 4 tháng 1 năm 2019). "The biggest jet engines ever seen are set to roar on Boeing's 777X". The Seattle Times. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2019.
  13. The Museum of Modern Art (2007). "Jet engine fan blade (model GE90-115B)". Trong Roberts, Rebecca (biên tập). MoMA highlights since 1980: 250 works from the Museum of Modern Art, New York. The Museum of Modern Art. tr. 175. ISBN 978-0-87070-713-1. OCLC 191091211. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2022.
  14. 1 2 3 "GE90 secures exclusive position on 777X". Flight Global. ngày 14 tháng 7 năm 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2016.
  15. Eden, Paul, biên tập (2008). Civil Aircraft Today: The World's Most Successful Commercial Aircraft. London: Amber Books Ltd. tr. 115. ISBN 978-1-84509-324-2.
  16. Norris, Guy; Mark Wagner (1999). Modern Boeing Jetliners. Minneapolis, Minnesota: Zenith Imprint. tr. 143–144. ISBN 0-7603-0717-2.
  17. 1 2 "How Ge Locked Up That Boeing Order". Bloomberg. ngày 9 tháng 8 năm 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2017.
  18. "GE90-115B: GE's Best-Ever New Jet Engine Entry Into Airline Service" (Thông cáo báo chí). GE Aviation. ngày 17 tháng 7 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2019.
  19. "Airbus A350 XWB puts pressure on Boeing 777". flightglobal. ngày 26 tháng 11 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2017.
  20. Ben Kingsley-Jones; Guy Norris (ngày 29 tháng 11 năm 2005). "Enhanced A340 to take on 777". Flight International. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2017.
  21. Jens Flottau (ngày 14 tháng 11 năm 2011). "Airbus Bids Adieu to A340, Postpones A350 Delivery". Aviation Week & Space Technology. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014.
  22. "GE strives to identify Air France engine fault". Flight International. ngày 3 tháng 1 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016.
  23. "The FAA Cleared The First 3D Printed Part To Fly In A Commercial Jet Engine From GE". GE reports. GE Aviation. ngày 14 tháng 4 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2015.
  24. "Etihad Airways signs engine agreements with GE for Boeing 777 Freighters" (Thông cáo báo chí). GE Aviation. ngày 10 tháng 11 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2016.
  25. Scott Hamilton (ngày 8 tháng 11 năm 2021). "Pontifications: As customers wait for 787s, some rethink 777-300ERs". Leeham News. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2021.
  26. General Electric Biggest Jet Engine for B-777. History Channel. 2008. Sự kiện xảy ra vào lúc 3:00–3:10 min. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2013.
  27. "GE90-115B certification: a look at the flight tests". Le Webmag. Safran. ngày 8 tháng 8 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2006.
  28. 1 2 "GE90 Sets New World Record For Thrust; Engine Completes FAR 33 Certification Tests" (Thông cáo báo chí). GE Aviation. ngày 5 tháng 2 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2011.
  29. Development of GE90-115B Turbofan Engine, Horibe et al., IHI Engineering Review, Vol. 37 No. February 1, 2004, p. 6
  30. "Impressive Progress of GE90-115B Engine Continues" (Thông cáo báo chí). GE Aviation. ngày 24 tháng 7 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2008.
  31. "Boeing 777-300ER Performs 330-Minute ETOPS Flight" (Thông cáo báo chí). Boeing. ngày 15 tháng 10 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2016.
  32. "Flight-distance record awaits as big 777 heads to London". Seattle Post-Intelligencer. ngày 8 tháng 11 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016.
  33. url= https://www.ntsb.gov/_layouts/ntsb.aviation/brief2.aspx?ev_id=20041015X01640&ntsbno=DCA04IA066&akey=1 Lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2018 tại Wayback Machine
  34. "Maintenance inspection a factor in 2012 Air Canada engine failure during take-off from Lester B. Pearson International Airport". Transportation Safety Board of Canada. ngày 13 tháng 12 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015.
  35. Edmiston, Jake (ngày 29 tháng 5 năm 2012). "Air Canada plane debris struck cars after engine failure, safety board confirms". National Post. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016.
  36. Charles Alcock (ngày 8 tháng 9 năm 2015). "Engine Failure Causes Fire on British Airways Boeing 777". Aviation International News. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2015.
  37. "NTSB Issues Update on the British Airways Engine Fire at Las Vegas". NTSB. ngày 8 tháng 9 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2015.
  38. "Fire damage apparent on SIA 777 wing". Flight Global. ngày 27 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016.
  39. M Scarfo, Jean-Pierre. "National Transportation Safety Board Aviation Incident Final Report" (PDF). Skybrary. National Transportation Safety Board. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2022.
  40. "Emergency airworthiness directive (AD) 2013-10-52" (PDF). FAA. ngày 16 tháng 5 năm 2013. sent to owners and operators of General Electric Company (GE) GE90-110B1 and GE90-115B turbofan engines. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016.
  41. 1 2 3 4 5 "The GE90 - An introduction" (PDF). GE. ngày 27 tháng 1 năm 2025. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2025.
  42. "Type Certificate Data Sheet E00049EN" (PDF). FAA. ngày 23 tháng 6 năm 2016. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2016.
  43. 1 2 "GE90 Commercial Aircraft Engine". GE Aviation. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2016.
  44. "GE90-115B Fan Completing Blade Testing; On Schedule For First Engine To Test" (Thông cáo báo chí). GE Aviation. ngày 17 tháng 6 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2019.
  45. "Engine Directory Part 1 - Turbofans". Flight International. ngày 14 tháng 11 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2019.
  46. 1 2 Kumar, Parth; Khalid, Adeel (2017). "Blended Wing Body Propulsion System Design". International Journal of Aviation, Aeronautics, and Aerospace. 4 (4): 28. doi:10.15394/ijaaa.2017.1187. ISSN 2374-6793. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2021.
  47. Lloyd R. Jenkinson & al. (ngày 30 tháng 7 năm 1999). "Civil Jet Aircraft Design: Engine Data File". Elsevier/Butterworth-Heinemann. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2019.
  48. Sahai, Abhishek Kumar (ngày 24 tháng 6 năm 2016). Consideration of Aircraft Noise Annoyance during Conceptual Aircraft Design (PDF) (Luận văn). Table 5.2: Comparison of key Gasturb simulated and reference values for the GE90-85B engine. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2021 tại Wayback Machine
  49. "LM9000". General Electric. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2018.
  50. "LM9000 – The new prime mover for oil and gas" (PDF). General Electric. 2017. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2017.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]