Gia Thắng, Gia Viễn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Gia Thắng
Địa lý
Tọa độ: 20°19′8″B 105°52′50″Đ / 20,31889°B 105,88056°Đ / 20.31889; 105.88056Tọa độ: 20°19′8″B 105°52′50″Đ / 20,31889°B 105,88056°Đ / 20.31889; 105.88056
Diện tích 1,22 km²
Dân số (1999)  
 Tổng cộng 3835 người
 Mật độ 3143 người/km²
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Tỉnh Ninh Bình
Huyện Gia Viễn
Mã hành chính 14506

Gia Thắng (tiếng Trung:嘉勝 jiā shèng; tiếng Nhật:嘉勝 Yoshikachi)là xã thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Trụ sở xã cách trung tâm thành phố Ninh Bình 15 km. Gia Thắng - Gia Tiến là quê hương của Lý Quốc Sư - Nguyễn Minh Không, tại đây còn có đền thờ đức Thánh Nguyễn được xây dựng từ thế kỷ XII.

Vị trí-Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Xã có 2 phần tách biệt nhau, nằm ở hai phía so với xã Gia Tiến

Gia Thắng gồm 3 thôn, chia thành 9 đội sản xuất. 3 thôn là Đào Lâm, Quốc Thanh, Vân La. 9 đội được đặt tên lần lượt từ đội 1 đến đội 9.

  • Diện tích: 1,22 km²
  • Dân số: 3835 người
  • Mật độ dân số: 3143 người/km²

Lịch sử – Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Đền Thánh Nguyễn trên quê hương Gia Thắng- Gia Viễn - Ninh Bình

Gia Thắng tự hào là quê hương của Lý Quốc Sư - Nguyễn Minh Không, một thiền sư, pháp sư và thầy thuốc nổi danh. Ông còn được biết đến là ông tổ của nghề đúc đồng Việt Nam, người tạo nên "Tứ đại khí" nổi tiếng dưới thời Lý. Có câu "Đại Hữu sinh Vương/Điềm Giang sinh Thánh", nghĩa là làng Đại Hữu, xã Gia Phương là nơi sinh ra vua Đinh Tiên Hoàng còn làng Điềm Giang, xã Gia Thắng, cách đó một cánh đồng là nơi sinh ra ông Nguyễn Minh Không, một vị Thánh trong tứ bất tử ở Việt Nam và ông tổ nghề đúc đồng.

Nguyễn Minh Không tên thật là Nguyễn Chí Thành, sinh ngày 15/10/1065 tại xã Đàm Xá, phủ Trường Yên nay thuộc xã Gia Thắng, huyện Gia Viễn. Cha của thánh Nguyễn là ông Nguyễn Sùng, quê ở thôn Điềm Xá, phủ Tràng An. Mẹ ông là bà Dương Thị Mỹ, quê ở Phả Lại, phủ Từ Sơn (Bắc Ninh). Gia cảnh hai vợ chồng ông Nguyễn Sùng rất nghèo nhưng luôn luôn chăm lo làm việc thiện. Hai ông bà sinh hạ được một người con trai khôi ngô, tuấn tú, đặt tên là Nguyễn Chí Thành. Cha mẹ mất sớm, cậu bé phải mò cua, bắt cá, sinh sống qua ngày trên sông Hoàng Long. Lớn lên, ông xuất gia thụ giáo đạo phật với Từ Đạo Hạnh, vị chân sư có uy tín đương thời và trở thành nhà tu hành với pháp danh Minh Không. Sau khi tu hành đắc đạo, ông dựng nên nhiều chùa triền làm thờ tự. Ông dựng nên một ngôi chùa nhỏ thờ phật tên là Viên Quang ngay tại quê hương Đàm Xá. Sau này chùa trở thành nơi thờ tự ông và được biết đến theo tên như ngày nay, đền Đức Thánh Nguyễn.

Ông lập ra chùa Quỳnh Lâm ở xã Tràng An, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Tại đây, ông đã đúc một tấm bia đá lớn cao 2,5 m, rộng 1,5 m với hoa văn hình rồng uốn lượn mềm mại và đặc biệt là pho tượng Di Lặc bằng đồng cao tới 6 trượng và được coi là một trong "Thiên Nam tứ khí", bốn báu vật của Việt Nam thời bấy giờ. Ông được thờ tự ở nhiều nơi. Đáng chú ý như chùa Cổ Lễ thuộc huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Định, chùa Keo ở huyện Vũ Thư, chùa Am ở huyện Kiến Xương, đền, chùa La Vân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình; đền thờ Lý Quốc Sư, chùa Quán Sứ, đền Thần Quang ở Hà Nộị, chùa Trông ở Hải Dương, chùa Phả Lại ở Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh...

Ngoài vai trò là nhà sư, Nguyễn Minh Không còn là một thầy thuốc. Vườn Dược Sơn thuộc khu du lịch tâm linh chùa Bái Đính chính là vườn thuốc của ông. Cũng chính tại nơi này ông đã phát hiện ra các hang động và biến chúng thành chùa khi đến đây tìm thuốc chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông.

Đặc biệt, Nguyễn Minh Không còn nổi tiếng với biệt tài chữa bệnh nan y cho vua Lý Thần Tông khiến vị vua này cảm phục ban quốc tính từ họ Nguyễn sang họ Lý, phong làm Quốc Sư, một cao tăng có chức vị đứng đầu của triều đại nhà Lý, từ đó ngài được gọi là Lý Quốc Sư.[1]

Lĩnh Nam chích quái (chữ Hán: 嶺南摭怪), có nghĩa là sách về "những chuyện quái dị ở đất Lĩnh Nam", quyển 2, có kể chuyện về Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không. Nguyên tác như sau:

" 初,長安大黃(一作嘉遠)潭舍鄉人阮至誠居國清寺,明號空國師。少年遊學,遇道行,服膺道教,歷十餘年。道行獎其心操,為與心印。且賜名焉。 及道行將謝世,謂明空曰:「昔吾世尊師道果圓成,猶有金創之報,況於末世玄微,豈能自保?我今見出世間,在人主位,來生病債,決定難逃。於汝有緣,應為相救。」道行已化,明空遂還舊寺耕焉。二十餘年,不求聞達。 時李神宗方攖奇病,憒亂心神。憤痛之聲,闞虎可畏。天下良醫應詔而至者以千萬計,不能措手。時有小童謠曰:「欲治天子病,須得阮明空。」乃遣使物色,得焉。 明空見使者至,舟中棹卒眾多,欲為蔬素以食,乃取飯一小鍋,出與舟中棹卒同食,乃示之曰:「子弟繁多,恐不足。你等姑且食之。」由是棹卒凡數百人,皆食不能盡。食罷,又示曰:「你等且暫熟睡少頃,須待潮漲,我始發行。」棹卒從之,皆於船上熟睡。才頃刻間,歸船已至都下。棹卒睡覺,皆驚異。 明空既至,諸方碩宿,已在殿上行法,見明空樸陋,不有加禮。明空親把大釘,長五寸許,釘於殿柱。抗聲曰:「有能拔此釘,方能療病。」如是再三,莫有應者。明空乃以左手兩指拔之,釘便隨出。眾皆驚服。 及見神宗,明空厲聲曰:「大丈夫尊為天子,富有四海,故為發如是狂亂哉?」帝乃大驚慄。明空令取巨鑊貯油,煮既百沸,以手攪之數四,遍洒帝身,其病輒愈。即拜明空為國師,蠲戶數百,以褒賞之。 太平二十二年辛丑,明空去世,壽七十六歲。"

Xưa ở làng Điềm Xá, huyện Đại Hoàng (còn có tên là Gia Viễn), đất Trường An có người tên Nguyễn Chí Thành, hiệu Minh Không quốc sư ở chùa Quốc Thanh, từ khi nhỏ tuổi đã theo học Đạo Hạnh, học được Đạo giáo, trải hơn mười năm. Đạo Hạnh thấy người tiết tháo bèn truyền tâm ấn lại đặt tên cho. Khi Đạo Hạnh sắp tạ thế, bảo Minh Không rằng: "Xưa tôn sư của ta đã tròn quả phúc còn bị nạn đao thương quả báo, huống chi ở thuở mạt thế huyền vi này, há có thể tự giữ mình được sao? Ta nay xuất, ở địa vị làm thấy người ta, bệnh trái kiếp sau khó tránh khỏi. Ta với ngươi có duyên, nên cứu giúp nhau." Đạo Hạnh đã hóa, Minh Không về chùa cũ cày ruộng. Hơn hai mươi năm, ẩn hơi kín tiếng. Khi đó Lý Thần Tông bỗng mắc bệnh lạ, tâm thần rối loạn, tiếng kêu đau đớn gầm rú đáng sợ. Các lương y trong thiên hạ vâng chiếu mà đến, kể hàng ngàn hàng vạn, đều chị bó tay. Khi ấy có đứa trẻ hát rằng "Dục trị thiên tử bệnh, tu đắc Nguyễn Minh Không" (nghĩa là: muốn chữa khỏi bệnh cho nhà vua tất phải tìm được Nguyễn Minh Không). Triều Đình bèn sai sứ đi tìm Minh Không. Minh Không thấy sứ giả đến, trong thuyền có rất nhiều lính, muốn dọn cơm cho ăn, bèn lấy một cái nồi nhỏ đem cho họ, bảo họ rằng: "anh em đông quá sợ không đủ no, tạm ăn vậy". Thế mà bọn lính chèo thuyền hơn một trăm người cùng ăn không sao hết. Lính ăn xong, sư lại bảo: "Anh em hãy tạm ngủ say một lát nữa đợi nước triều dâng lên ta sẽ bắt đầu đi". Họ nghe lời, đều nằm ngủ say ở trên thuyền. Mới trong khoảnh khắc, thuyền đã trở về tới Kinh Đô. Bọn lính tỉnh dậy đều lấy làm lạ. Khi Minh Không đến, các bậc có tiếng là học rộng ở khắp nơi đều đang thi thố mọi phép ở trên điện, thấy Minh Không quê mùa, không thèm chào. Minh Không lấy một chiếc đinh lớn dài hơn năm tấc đóng vào cột điện, lớn tiếng nói rằng: "Có nhổ được đinh này hãy nói chuyện chữa bệnh". Nói như vậy hai ba lần, không ai dám nhổ. Minh Không bèn lấy hai ngón tay trái mà nhổ, binh bật phăng ra. Họ đều kinh ngạc. Khi gặp Thần Tông, Minh Không lớn tiếng nói: "Kẻ đại trượng phu được tôn lên ngôi thiên tử, giàu có khắp bốn bể, cớ sao còn phát bệnh cuồng loạn như vậy?". Vua nghe nói thế rất run sợ. Minh Không bèn lấy một vạc dầu lớn, đun sôi sùng sục, rồi lấy tay khoắng vào 4 lần, rắc lên khắp mình vua, bệnh tức thì khỏi hết. Vua bèn phong Minh Không làm quốc sư, ban lộc mấy trăm hộ để thưởng công. Năm Tất Sửu, niên hiệu Thái Bình 22, Minh Không tạ thế, thọ bảy mươi sáu tuổi.

Đền chùa – Lễ hội[sửa | sửa mã nguồn]

Đền Thánh Nguyễn trong không gian Hoa Lư tứ trấn

Đền Thánh Nguyễn là một ngôi đền cổ của làng Điềm, được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia tháng 2 năm 1989. Đền nằm trên mảnh đất dài 100m rộng hơn 40m, tổng thể công trình kiến trúc khá quy mô, được xây dựng theo kiểu "nội công ngoại quốc". Vào đền đi theo hai lối Đông Tây thấy có hai cột cờ hai bên vút cao. Đầu tiên là Vọng Lâu. Bên hồi của Vọng Lâu có cây đèn đá, cao hơn một mét, biểu tượng của cây đèn Nguyễn Minh Không xưa kia ngồi thắp sáng để thiền tịnh. Chuyện kể rằng, cây đèn tự nhiên mọc lên, Nguyễn Minh Không thường đêm đêm ngồi bên cây đèn, các loài chim, loài thú về chầu xung quanh, ánh sáng cây đèn chiếu sáng đến tầng mây trên không. Chính vì thế, nhân dân tôn hiệu ông là Minh Không và từ đó trở đi tục gọi thiền sư là Minh Không. Đền có 4 toà làm theo kiểu tiền nhất, hậu công (trước theo kiểu chữ nhất 一 sau là chữ công 工). Năm gian tiền đường làm theo kiểu chồng rường, hồi có mái đại, trụ non xà đuôi chuột, các cặp xà dọc, xà ngang, xà nách, được bám vào cột chắc khoẻ như những ngấn mộng chính xác kín kít, phân bổ ở vị trí không để ảnh hưởng tới sự chịu tải của cột. Gian giữa trên cao ở phía ngoài có cuốn thư chạm khắc bốn chữ Hán Thiên khái Thánh sinh (trời sinh ra Thánh). Bên trong để đồ tế khí, có hai chiếc trống rất quý hiếm, mặt trống đường kính 1,4 m. Trong cùng là chính tẩm gồm 5 gian, thờ Nguyễn Minh Không và cha mẹ ông. Phía sau chính tẩm là gác chuông hai tầng, tám mái, cũng toàn bằng gỗ lim. Gác chuông đây treo một quả chuông nặng hơn 1 tấn, cao 1,60 m. Quanh đền có nhiều cây cổ thụ tán là xanh tươi và những cây cảnh điểm trang cho đền, tạo thành một bức tranh phong cảnh làng quê thâm nghiên, tĩnh mịch.

Lễ hội đền Thánh Nguyễn diễn ra từ ngày 8 đến ngày 10 tháng 3 âm lịch. Đây là dịp nhân dân địa phương tri ân đức Thánh Nguyễn Minh Không. Lễ hội chính được tổ chức 5 năm một lần hoặc 10 năm một lần (tuỳ theo điều kiện kinh tế); lễ hội hàng năm tổ chức vào dịp tháng Giêng. Trong phần lễ chính có tục rước nước từ sông Hoàng Long về đền; tế lục khúc, tế nam quan, nữ quan; phần hội có tổ chức các trò chơi dân gian như kéo co, chọi gà, cờ 32 quân, cờ người…[2]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]