Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Terminal High Altitude Area Defense (THAAD)
A Terminal High Altitude Area Defense interceptor being fired during an exercise in 2013
Đợt bắn hỏa tiễn THAAD trong cuộc thao dợt năm 2013
Loại hệ thống hỏa tiễn chống phi đạn
Nguồn gốc  Hoa Kỳ
Lược sử hoạt động
Trang bị 2008–nay
Quốc gia sử dụng Quân đội Mỹ
Lược sử chế tạo
Năm thiết kế 1987
Nhà sản xuất Lockheed Martin
Giai đoạn sản xuất 2008–nay
Số lượng chế tạo numerous
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 900 kg[1]
Chiều dài 6.17 m[1]
Đường kính 34 cm[1]

Tầm hoạt động >200 km[1]
Tốc độ Mach 8.24 or 2.8 km/s[1]
Hệ thống điều khiển Indium antimonide Imaging Infra-Red Seeker Head

Hệ thống phòng thủ tầm cao giai đoạn cuối (tiếng Anh: Terminal High Altitude Area Defense, viết tắt là THAAD, trước kia gọi là Theater High Altitude Area Defense, tức Khu vực phòng thủ cao độ chiến vực) là một hệ thống tên lửa đạn đạo của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ được thiết kế để bắn hạ các tên lửa đạn đạo tầm ngắn, trung bình và trung gian trong giai đoạn đầu của chúng bằng cách sử dụng tiêu diệt Tiếp cận[2]. THAAD được phát triển để chống lại các cuộc tấn công tên lửa Scud của Iraq trong Chiến tranh vùng Vịnh vào năm 1991[3]. Tên lửa này không mang đầu đạn hạt nhân, nhưng dựa vào động năng của động lực để tiêu diệt tên lửa. [N 1] THAAD được thiết kế để tấn công tên lửa Scud và các loại vũ khí tương tự.

Ban đầu là một chương trình của Quân đội Hoa Kỳ, THAAD đã được dưới sự bảo trợ của Cơ quan Quốc phòng Mỹ. Hải quân cũng có một chương trình tương tự, hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo Aegis trên biển, hiện cũng có một phần đất ("Aegis ashore"). THAAD ban đầu được dự kiến ​​triển khai vào năm 2012, nhưng triển khai ban đầu đã diễn ra tháng 5 năm 2008[4][5]. THAAD đã được triển khai ở United Arab Emirates, Thổ Nhĩ Kỳ và Hàn Quốc.

Hệ thống THAAD đang được thiết kế, xây dựng và tích hợp bởi Lockheed Martin Space Systems làm nhà thầu chính. Các nhà thầu phụ chính bao gồm Raytheon, Boeing, Aerojet, Rocketdyne, Honeywell, BAE Systems, Oshkosh Defense, MiltonCAT, và Oliver Capital Consortium.[6]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

DEM-VAL Test Program[sửa | sửa mã nguồn]

EMD Test Program[sửa | sửa mã nguồn]