Họ Thủy thanh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Họ Thủy thanh
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
Bộ (ordo) Không đặt (nhưng xem văn bản)
Họ (familia) Tetracentraceae
A.C.Sm., 1945
Chi điển hình
Tetracentron
Oliv.
Các chi
Xem văn bản

Họ Thủy thanh (danh pháp khoa học: Tetracentraceae) là tên gọi để chỉ một họ thực vật có hoa. Họ này được nhiều nhà phân loại học công nhận.

Hệ thống APG II năm 2003 (không thay đổi so với hệ thống APG năm 1998) không công nhận một cách chính thức việc sử dụng tên gọi họ này và gộp loài duy nhất của họ vào trong họ Trochodendraceae. Tuy nhiên, APG và APG II đều cho phép tách riêng họ Tetracentraceae ra, không đặt cả hai họ như đã đề cập vào trong bộ nào và để chúng trong số các dòng dõi cơ sở của thực vật hai lá mầm thật sự.

Việc chia tách như thế tạo ra hai họ, mỗi họ chỉ có 1 loài cây thân gỗ với họ Tetracentraceae là thủy thanh [1] (Tetracentron sinense) có ở tây nam Trung QuốcNepal, còn họ Trochodendraceae với côn lan[2] (Trochodendron aralioides) có ở Nhật Bản và miền bắc Đài Loan. Hai loài cây này chia sẻ đặc trưng chung là có chất gỗ (xylem) thứ cấp không có mạch, và đây là điều cực hiếm trong số thực vật hạt kín. Do lớp gỗ không có mạch gợi ý về tính nguyên thủy của hai loài này nên chúng luôn nhận được sự chú ý từ giới các nhà phân loại học. Tuy nhiên, trên website của APG[3] người ta coi họ này chứa hai loài nói trên và thuộc bộ Côn lan (Trochodendrales). Gần đây, trong một bài viết năm 2005 tại sinhocvietnam, tiến sĩ Nguyễn Nghĩa Thìn cho rằng loài thủy thanh có mặt tại khu vực Sa Pa, Lào Cai nhưng chưa đặt tên tiếng Việt cho nó.

Hệ thống Cronquist năm 1981 chấp nhận cả hai họ và đặt chúng trong bộ Côn lan thuộc phân lớp Hamamelidae của lớp Magnoliopsida.

Hệ thống Dahlgren có sự lựa chọn tương tự trong cấp họ và bộ, nhưng đặt bộ này trong siêu bộ Rosanae của phân lớp Magnoliidae.

Hệ thống Dahlgren có sự lựa chọn tương tự trong cấp họ và bộ, nhưng đặt bộ này trong siêu bộ Rosanae của phân lớp Magnoliidae.

Hệ thống Engler phiên bản cập nhật năm 1964 đặt cả hai họ trong bộ lớn Magnoliales của phân lớp Archychlamydeae thuộc lớp Dicotyledoneae.

Hệ thống Wettstein cập nhật lần cuối năm 1935 hợp nhất cả 2 loài trong họ Trochodendraceae và đặt trong bộ Polycarpicae (tên gọi cũ hơn của bộ Magnoliales) thuộc phân lớp Choripetalae của lớp Dicotyledones.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tên gọi phiên âm từ tiếng Trung , nghĩa là màu xanh của nước.
  2. ^ Tên gọi phiên âm từ tiếng Trung .
  3. ^ Trochodendrales