Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hội đồng Nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh
Hội đồng nhân dân TP.HCM khoá IX
nhiệm kỳ 2016-2021
Huy hiệu hoặc biểu trưng
Dạng
Mô hình
Lãnh đạo
Chủ tịch
Nguyễn Thị Quyết Tâm
Từ 22 tháng 6, 2011 (2011-06-22)
Phó chủ tịch
Phó chủ tịch
Cơ cấu
Số nghị sĩ 105
Các chính đảng

     Đảng viên (98)

     Ngoài đảng (7)
Nhiệm kỳ
5 năm
Bầu cử
Bầu cử vừa qua 22 tháng 5, 2016 (2016-05-22)
Trụ sở
86 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, Quận 1, TP.Hồ Chí Minh
Trang web
http://www.dbnd.hochiminhcity.gov.vn

Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh[1] là cơ quan quyền lực nhà nước địa phương ở Thành phố Hồ Chí Minh, tạo thành nhánh lập pháp trong chính quyền Thành phố.

Hội đồng Nhân dân có nhiệm vụ bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật của nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, và thực hiện quyền giám sát với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân Thành phố, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Toà án nhân dânViện kiểm sát nhân dân Thành phố.[2]

Hội đồng này có nhiệm kỳ 5 năm, mỗi năm họp hai kỳ tại Hội trường Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan này bao gồm 150 đại biểu đại diện cho 35 khu vực bầu cử trên khắp các quận huyện của Thành phố Hồ Chí Minh. Đại biểu được bầu theo cơ chế phổ thông đầu phiếu trong các cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp.

Bộ phận lãnh đạo Hội đồng nhân dân Thành phố là Thường trực Hội đồng Nhân dân, gồm một Chủ tịch, hai Phó chủ tịch, các Trưởng ban Hội đồng nhân dân và Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân. Chủ tịch Hội đồng nhân dân đương nhiệm là bà Nguyễn Thị Quyết Tâm, nhận lĩnh vị trí này từ tháng 6 năm 2011.

Hội đồng điều hành 4 ban chuyên trách là Ban Pháp chế, Ban Kinh tế-Ngân sách, Ban Đô thị và Ban Văn hoá-Xã hội, với trưởng ban, phó ban và các uỷ viên do chính đại biểu hội đồng nhân dân đảm nhận.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử Hội đồng nhân dân thành phố gắn liền với quá trình hình thành và phát triển hành chính thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn và Sài Gòn và Gia Định từ thời Pháp thuộc đến nay.

Thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi xâm chiếm thành Gia Định và ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ từ tay nhà Nguyễn, người Pháp gấp rút quy hoạch lại Sài Gòn thành một đô thị lớn phục vụ mục đích khai thác thuộc địa. Đồng thời, chính quyền Pháp từng bước xây dựng hệ thống hành chính mới nhằm thay thế hệ thống quan, phủ, huyện của người Việt bằng một hệ thống mới phù hợp với việc cai trị của mình.

Ngày 11 tháng 4 năm 1861, thống đốc Nam Kỳ Leonard Charner ban hành nghị định quy định giới hạn thành phố Sài Gòn.[3] Lúc này, Sài Gòn nằm trong địa bàn tỉnh Gia Định. Trong thời gian đầu, Thống đốc Nam Kỳ thông qua Nha Nội chánh quản lý trực tiếp thành phố này.[4] Ngày 4 tháng 4 năm 1867, Phó Đô đốc de la Grandière ban hành Nghị định số 53 "Tổ chức một Uỷ ban thành phố Sài Gòn", thành lập Uỷ hội Thành phố (Commission municipal), đứng đầu là Uỷ viên thành phố (Commissaire municipal) và 12 hội viên để quản lý thành phố.[5] Đến ngày 8 tháng 7 năm 1869 Thống đốc Nam Kỳ ký nghị định mới số 131 thay thế: Chức vụ Ủy viên thành phố được đổi thành Thị trưởng (Maire - một số tài liệu gọi là "Đốc lý"), đồng thời Ủy hội thành phố đổi thành Hội đồng thành phố (Conseil municipal) gồm 13 thành viên, có nhiều quyền hạn hơn. Charles Marie Louis Turc được cử làm uỷ viên thành phố và cũng là Thị trưởng đầu tiên của Sài Gòn, giai đoạn 1867-1871. Sau khi thành lập Liên bang Đông Dương vào ngày 17 tháng 10 năm 1887, chức vụ Thị trưởng thành phố Sài Gòn do Hội đồng thành phố bầu chọn, Thống đốc Nam Kỳ đề nghị Toàn quyền Đông Dương quyết định chuẩn y.

Thành phố Chợ Lớn được thành lập ngày 6 tháng 6 năm 1865 theo Nghị định của Thống đốc Nam Kỳ. Quản lý thành phố trong thập niên 1870 có một cơ quan hành chính lâm thời gọi là Ban Đại diện thành phố (Délégation municipale), đứng đầu là vị Chủ tịch (Président)[6]. Ngày 20/10/1879. Thống đốc Nam Kỳ ban hành nghị định công nhận thành phố Chợ Lớn là đô thị loại II.[7] Sau khi thành lập Liên bang Đông Dương vào ngày 17/10/1887, chức vụ Thị trưởng thành phố Chợ Lớn[1] do Ủy hội thành phố (Commission municipale) bầu chọn, Thống đốc Nam Kỳ đề nghị và Toàn quyền Đông Dương quyết định chuẩn y.

Ngày 27 tháng 4 năm 1931, tổng thống Pháp ký sắc lệnh hợp nhất hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn thành một đơn vị hành chính mới gọi là Khu Sài Gòn - Chợ Lớn (Région Saigon - Cholon). Tiếp theo ngày 14 tháng 12 năm 1931 Toàn quyền Đông Dương ký nghị định quy định tổ chức bộ máy, hoạt động của khu. Quản lý khu có Hội đồng Hành chánh (Conseil d'Administration), đứng dầu là Khu trưởng (Administrateur de la région) do Toàn quyền Đông Dương bổ nhiệm[8]. Tuy nhiên chức vụ Thị trưởng của hai thành phố: Sài Gòn và Chợ Lớn còn duy trì, cho đến năm 1934 mới bãi bỏ.

Ngày 26 tháng 9 năm 1947 chức danh người đứng đầu chính quyền Khu Sài Gòn - Chợ Lớn đổi tên thành Đô trưởng.[9]

Thời Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hoà[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1951, chính phủ Quốc gia Việt Nam của cựu hoàng Bảo Đại ra sắc lệnh cải danh Khu Sài Gòn - Chợ Lớn thành Đô Thành Sài Gòn - Chợ Lớn. Đến năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà ban hành sắc lệnh đổi thành Đô Thành Sài Gòn. Đứng đầu Đô thành là Đô trưởng. Ngoài ra còn có Hội đồng Đô thành (đứng đầu là vị Chủ tịch), gồm 35 nghị viên do dân bầu.[9] Hội đồng này có thẩm quyền quyết định về ngân sách, các vấn đề dân sinh trên địa bàn và giám sát việc quản lý của Đô trưởng. Tỉnh Gia Định được quản lý bởi Tỉnh trưởng và Hội đồng Tỉnh. Đứng đầu hội đồng tỉnh là Chủ tịch và 30 nghị viên do dân bầu.

Thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam (1975-1976)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Sự kiện 30 tháng 4, chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam tiếp quản Đô thành Sài Gòn và các vùng lân cận. Ngày 3 tháng 5 năm 1975, thành phố Sài Gòn - Gia Định được thành lập trên cơ sở sáp nhập Đô Thành Sài Gòn và tỉnh Gia Định của chế độ cũ. Trong thời kỳ này, thành phố được quản lý trực tiếp bởi Uỷ ban Quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định. Tháng 1 năm 1976 là Uỷ ban Nhân dân Cách mạng thành phố Hồ Chí Minh thay thế Uỷ ban quân quản đi vào hoạt động. Tháng 4 năm 1976, cuộc bầu cử Quốc hội thống nhất được tổ chức đầu tiên, và bầu cử Hội đồng Nhân dân các cấp. Sau cuộc bầu cử, Hội đồng Nhân dân chính thức được hình thành, đặt tên là Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ năm 1976 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân 1983 chưa quy định vị trí lãnh đạo thường trực của Hội đồng nhân dân các cấp, mà tại mỗi kỳ họp, Hội đồng bầu ra Đoàn chủ tịch và đoàn thư ký kỳ họp. Người ký tên nghị quyết hay văn bản của Hội đồng nhân dân thành phố lúc bấy giờ là Chủ toạ kỳ họp thay mặt Đoàn chủ tịch. Năm 1989, Quốc hội ban hành Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban Nhân dân mới, lần đầu tiên quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Thường trực Hội đồng nhân dân, chức danh Chủ tịch Hội đồng nhân dân các Phó chủ tịch.[10] Chủ tịch Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đầu tiên là ông Lê Khắc Bình, được bầu tại kỳ họp thứ nhất Hội đồng nhân dân Thành phố khoá IV.

Pháp lý[sửa | sửa mã nguồn]

Việc tổ chức hoạt động của Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên hai văn bản chính là: Luật Tổ chức chính quyền địa phương, do Quốc hội Việt Nam thông qua tháng 6 năm 2015 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2016; và Quy chế hoạt động Hội đồng Nhân dân ban hành kèm theo Nghị quyết số 753/2005/NQ-UBTVQH11 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 2 tháng 4 năm 2005.[11]

Quyền hạn và nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có nhiệm vụ và quyền hạn trong các mặt của thành phố từ kinh tế, chính trị, khoa học, thể dục thể thao và quốc phòng.[12]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lĩnh vực kinh tế Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có nhiệm vụ và quyền hạn sau:

  • Quyết định quy hoạch, kế hoạch dài hạn và hàng năm về: Phát triển kinh tế - xã hội, sử dụng đất đai, phát triển ngành, xây dựng và phát triển đô thị, nông thôn trong phạm vi quản lý;
  • Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới và cơ chế khuyến khích phát triển các ngành sản xuất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển các thành phần kinh tế ở địa phương;
  • Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp thành phố; phê chuẩn quyết toán ngân sách và điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương; quyết định các chủ trương, biện pháp triển khai và giám sát việc thực hiện ngân sách địa phương;
  • Quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách ở địa phương theo quy định của Luật ngân sách; quyết định thu phí, lệ phí, các khoản đóng góp của nhân dân và mức huy động vốn theo quy định của pháp luật; quyết định phương án quản lý, phát triển, sử dụng nguồn nhân lực ở địa phương và các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng, buôn lậu và gian lận thương mại.

Giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có nhiệm vụ và quyền hạn sau:

  • Quyết định chủ trương và biện pháp phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện làm việc, sinh hoạt của người lao động, thực hiện phân bổ dân cư, tổ chức đời sống và quản lý dân cư;
  • Quyết định quy hoạch, kế hoạch mạng lưới giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, dạy nghề, mạng lưới khám chữa bệnh;
  • Quyết định các biện pháp bảo đảm cơ sở vật chất và điều kiện cho các hoạt động giáo dục và đào tạo, văn hóa thông tin, thể dục thể thao; các biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở địa phương; biện pháp giáo dục, bảo vệ, chăm sóc thanh thiếu niên và nhi đồng, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, giáo dục truyền thống đạo đức, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc; các biện pháp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình; các biện pháp thực hiện chế độ chính sách đối với các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội.

Khoa học, công nghệ, tài nguyên và môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, tài nguyên và môi trường Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có nhiệm vụ và quyền hạn sau:

  • Quyết định các chủ trương và biện pháp phát triển khoa học, công nghệ và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống; các biện pháp quản lý và sử dụng đất đai, nguồn nước và tài nguyên trong lòng đất; các biện pháp bảo vệ môi trường, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai; các biện pháp thực hiện những quy định của pháp luật về tiêu chuẩn đo lường và chất lượng sản phẩm tại đại phương.

Quốc phòng an ninh, dân tộc tôn giáo, pháp luật[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, trong thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo và thi hành pháp luật Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có nhiệm vụ và quyền hạn sau:

  • Quyết định các biện pháp thực hiện kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế và xây dựng lực lượng dự bị động viên ở địa phương; các biện pháp đảm bảo an ninh, trật tự, đảm bảo an toàn xã hội, phòng và chống tội phạm; các biện pháp thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo; các biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật, bảo vệ và bảo hộ những quyền và lợi ích hợp pháp của công dân ở địa phương.

Chính quyền hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lĩnh vực xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành chính Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có nhiệm vụ và quyền hạn sau:

  • Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Thường trực Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Trưởng, Phó và Ủy viên các ban của Hội đồng nhân dân, Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân cùng cấp;
  • Bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân và chấp nhận việc đại biểu Hội đồng nhân dân xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu;
  • Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu;
  • Phê chuẩn cơ cấu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp thành phố, quận, huyện, thị xã; quyết định thành lập, sát nhập, giải thể một số cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp; quyết định tổng biên chế sự nghiệp ở địa phương; thông qua tổng biên chế hành chính của địa phương trước khi trình cấp có thẩm quyền quyết định;
  • Quyết định chính sách thu hút và một số chế độ khuyến khích đối với cán bộ, công chức trên địa bàn phù hợp với yêu cầu và khả năng của ngân sách địa phương; quyết định số lượng và mức phụ cấp đối với cán bộ không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn trên cơ sở hướng dẫn của Chính phủ;
  • Thông qua Đề án thành lập mới, nhapạ, chia và điều chỉnh địa giới hành chính để đề nghị cấp trên xem xét, quyết định; quyết định việc đặt tên, đổi tên đường, phố, quảng trường, công trình công cộng ở địa phương theo quy định của pháp luật;
  • Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định, chỉ thị trái pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp quận, huyện, thị xã;
  • Giải tán Hội đồng nhân dân cấp quận, huyện, thị xã và phê chuẩn Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp quận, huyện, thị xã về việc giải tán Hội đồng nhân dân cấp xã trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật.

Bộ máy tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Thường trực Hội đồng Nhân dân Thành phố[13][sửa | sửa mã nguồn]

Chủ tịch HĐND Thành phố đương nhiệm; Thường trực Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan hoạt động thường xuyên giữa hai kỳ họp, đảm bảo cho Hội đồng Nhân dân thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng Nhân dân;

Nhiệm vụ và quyền hạn của Thường trực Hội đồng Nhân dân:

  • Chuẩn bị, triệu tập và chủ tọa các kỳ họp Hội đồng Nhân dân;
  • Giám sát việc thực hiện Nghị quyết Hội đồng Nhân dân và thi hành pháp luật tại địa phương;
  • Điều hòa hoạt động của các Ban;
  • Giữ mối liên hệ với đại biểu;
  • Tổng hợp ý kiến chất vấn của đại biểu và ý kiến, nguyện vọng của nhân dân để báo cáo tại kỳ họp Hội đồng Nhân dân;
  • Phê chuẩn kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch và uỷ viên Thường trực Hội đồng Nhân dân quận, huyện;
  • Trình Hội đồng Nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm với người giữ chức vụ do Hội đồng Nhân dân bầu;
  • Đưa ra Hội đồng Nhân dân hoặc đưa ra cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng Nhân dân;
  • Báo cáo cấp trên về hoạt động của Hội đồng Nhân dân;
  • Giữ mối liên hệ và phối hợp công tác với ủy ban Mặt trận Tổ quốc việt Nam cùng cấp.

Nhân sự Thường trực Hội đồng Nhân dân Thành phố khóa IX bao gồm:[14][15]

Chức vụ Họ và tên Đơn vị bầu cử Chức vụ Đảng bộ địa phương
Chủ tịch Hội đồng nhân dân Nguyễn Thị Quyết Tâm số 26 - Huyện Củ Chi Phó Bí thư Thành uỷ
Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân Trương Thị Ánh số 5 - Quận 5 Thành uỷ viên
Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân Phạm Đức Hải số 21 - Quận Tân Phú Thành uỷ viên

Ban chuyên trách[sửa | sửa mã nguồn]

Các ban chuyên trách Hội đồng Nhân dân Thành phố là cơ quan tham mưu cho Hội đồng Nhân dân, có nhiệm vụ tham gia chuẩn bị các kỳ họp Hội đồng Nhân dân, thẩm tra các báo cáo, đề án do Hội đồng Nhân dân hoặc Thủ trưởng Hội đồng Nhân dân phân công; giúp Hội đồng Nhân dân giám sát hoạt động của Ủy ban Nhân dân thành phố và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân thành phố, hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố, các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân trong việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng Nhân dân và thi hành pháp luật.[16]

Các ban chuyên trách của Hội đồng Nhân dân thành phố hiện nay bao gồm:[17]

  • Ban Kinh tế - Ngân sách
  • Ban Văn hóa - Xã hội
  • Ban Pháp chế
  • Ban Đô thị
  • Văn phòng HĐND TP

Thư ký kỳ họp[sửa | sửa mã nguồn]

Luật Tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân năm 2003 quy định: tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa, Hội đồng Nhân dân bầu Thư ký kỳ họp theo sự giới thiệu của Chủ tọa kỳ họp.

Thư ký kỳ họp Hội đồng Nhân dân có các nhiệm vụ sau đây[18]:

  1. Lập danh sách đại biểu Hội đồng Nhân dân có mặt, vắng mặt trong các phiên họp và trong kỳ họp;
  2. Ghi biên bản phiên họp, kỳ họp;
  3. Tổng hợp đầy đủ, trung thực, chính xác ý kiến phát biểu của đại biểu tại các cuộc họp Tổ đại biểu và phiên họp toàn thể;
  4. Giúp Chủ tọa kỳ họp trong việc điều khiển thảo luận và biểu quyết;
  5. Giúp Thường trực Hội đồng Nhân dân phối hợp với các Ban của Hội đồng Nhân dân, các cơ quan hữu quan chỉnh lý dự thảo nghị quyết và các văn bản khác để trình Hội đồng Nhân dân;
  6. Giúp Chủ tọa kỳ họp cung cấp thông tin, tài liệu tuyên truyền về kỳ họp”.

Đại biểu Hội đồng Nhân dân[sửa | sửa mã nguồn]

Sáng 27 tháng 5 năm 2016, Ủy ban bầu cử TP.HCM công bố kết quả và danh sách 105 người trúng cử đại biểu HĐND TP Khóa IX nhiệm kỳ 2016-2021.[19] có 46 nữ (43,81%); 15 người dưới 35 tuổi (14,29%); 33 người tái cử (31,43%); 67 người trình độ trên đại học (63,81%) và 35 người trình độ đại học (33,33%).[20]

Đại biểu được phân thành 24 tổ đại biểu, mỗi tổ tương ứng với một quận, huyện của thành phố.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh”. 
  2. ^ “Luật này quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.”. 
  3. ^ “Niên biểu 300 năm Sài Gòn - TPHCM”. 13 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2016. 
  4. ^ “Notice historique, administrative et politique sur la ville de Saïgon.”. Gallica. 1917. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2016. 
  5. ^ Brébion, Antoine (1935). “Dictionnaire de bio-bibliographie générale, ancienne et moderne de l'Indochine française”. Gallica. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2016. 
  6. ^ Annuaire de la Cochinchine française
  7. ^ Annuaire général de l'Indo-Chine française ["puis" de l'Indochine] | 1912 | Gallica
  8. ^ Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh
  9. ^ a ă http://gslhcm.org.vn/libol/attach/doc/doc20070625IACU.pdf
  10. ^ “Luật Tổ chức HĐND và UBND”. MOJ. 
  11. ^ “Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015”. MOJ. 
  12. ^ “Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân”. 
  13. ^ “Nhiều sao trúng cử đại biểu HĐND TP HCM”. 
  14. ^ “THƯỜNG TRỰC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN”. 
  15. ^ “Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm tái đắc cử Chủ tịch HĐND TP.HCM”. 
  16. ^ “LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN”. 
  17. ^ “Cựu Tổng biên tập Báo Tuổi Trẻ làm Phó chủ tịch HĐND TP.HCM”. 
  18. ^ Điều 14 Quy chế hoạt động Hội đồng Nhân dân năm 2005
  19. ^ “Chủ tịch TP HCM có phiếu bầu vào HĐND cao nhất”. 
  20. ^ “Công bố danh sách 105 đại biểu Hội đồng Nhân dân TP.HCM khóa IX”. Vietnamplus. 27 tháng 5 năm 2015.