Bước tới nội dung

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Hiến pháp Việt Nam)
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namvăn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là nền tảng chính trị - pháp lý cơ bản, quy định những nguyên tắc nền tảng của chế độ chính trị, kinh tế, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cũng như tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước.[1]

Văn bản Hiến pháp đang có hiệu lực thi hành là bản Hiến pháp năm 2013, được Quốc hội Việt Nam khóa XIII thông qua vào ngày 28 tháng 11 năm 2013 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2014. Bản Hiến pháp này đã trải qua một lần sửa đổi, bổ sung quan trọng vào năm 2025 bởi Nghị quyết số 203/2025/QH15, được Quốc hội khóa XV thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2025, nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và tổ chức bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu quả.[2]

Bối cảnh sửa đổi Hiến pháp năm 2025

[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên nhân và sự cần thiết

[sửa | sửa mã nguồn]

Việc sửa đổi Hiến pháp năm 2013 vào năm 2025 không phải là một quyết định đơn lẻ mà là một mắt xích trong chuỗi cải cách thể chế sâu rộng được Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng. Theo bài viết của BBC News Tiếng Việt, yêu cầu sửa đổi Hiến pháp xuất phát từ thực tế các cải cách hành chính và thể chế gặp nhiều điểm vướng mắc từ chính các quy định của Hiến pháp hiện hành. Ngay sau khi hoàn tất việc sắp xếp bộ máy của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, vấn đề sáp nhập tỉnh thành và bỏ đơn vị hành chính cấp huyện đã được đặt ra. Nếu Chính phủ đơn phương thực hiện các đề án này mà không sửa đổi Hiến pháp, động thái đó sẽ bị coi là vi hiến, bởi Điều 110 Hiến pháp 2013 quy định rõ mô hình ba cấp hành chính (tỉnh - huyện - xã).[3]

Về mặt lý luận, Học viện Chính sách và Phát triển nhận định nhu cầu sửa đổi Hiến pháp 2013 bắt nguồn từ yêu cầu khách quan của công cuộc đổi mới mô hình quản trị quốc gia và sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước nhằm đạt được sự tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả. Sự phát triển kinh tế - xã hội sau hơn một thập kỷ thi hành Hiến pháp 2013 đã đặt ra những vấn đề mới cần được thể chế hóa ở tầm Hiến định để đảm bảo sự phát triển bền vững.[4]

Cơ sở chính trị và pháp lý

[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ sở pháp lý và định hướng chính trị cho việc sửa đổi Hiến pháp được thể hiện trong các văn kiện của Đảng. Kết luận 127-KL/TW năm 2025 của Bộ Chính trị đã chỉ đạo việc nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bao gồm cả việc nghiên cứu sáp nhập tỉnh thành và sửa đổi, bổ sung các quy định của Đảng, Hiến pháp, Pháp luật của Nhà nước liên quan đến tổ chức bộ máy. Tiếp đó, Nghị quyết 60-NQ/TW năm 2025 của Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã chính thức thông qua chủ trương sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, sáp nhập cấp xã và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.[5]

Quy trình sửa đổi

[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Điều 120 Hiến pháp năm 2013, Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp. Quốc hội quyết định việc sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Quốc hội thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình Quốc hội dự thảo Hiến pháp. Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.[6]

Trong lần sửa đổi năm 2025, quy trình được thực hiện khẩn trương. Ngày 5 tháng 5 năm 2025, Quốc hội khóa XV đã thảo luận và thông qua Nghị quyết số 194/2025/QH15 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013. Từ ngày 6 tháng 5 đến ngày 5 tháng 6 năm 2025, việc lấy ý kiến Nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp được tổ chức rộng rãi trên cả nước. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh việc lấy ý kiến phải "khoa học, dân chủ, thực chất".[7] Ngày 16 tháng 6 năm 2025, với 470/470 đại biểu có mặt biểu quyết tán thành (chiếm 98,33% tổng số đại biểu), Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 203/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 16 tháng 6 năm 2025.[8] Tốc độ sửa đổi được đánh giá là nhanh kỷ lục, chỉ trong vòng 43 ngày kể từ khi Nghị quyết 194 được thông qua.[9]

Hiến pháp hiện hành (sau sửa đổi 2025)

[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến pháp hiện hành, sau lần sửa đổi năm 2025, vẫn giữ nguyên bố cục 11 chương với 120 điều, bao gồm:

  • Chương I: Chế độ chính trị
  • Chương II: Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
  • Chương III: Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường
  • Chương IV: Bảo vệ Tổ quốc
  • Chương V: Quốc hội
  • Chương VI: Chủ tịch nước
  • Chương VII: Chính phủ
  • Chương VIII: Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân
  • Chương IX: Chính quyền địa phương
  • Chương X: Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước
  • Chương XI: Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp

Những nội dung sửa đổi, bổ sung cốt lõi năm 2025

[sửa | sửa mã nguồn]

Nghị quyết số 203/2025/QH15 đã sửa đổi 5 điều của Hiến pháp 2013 (Điều 9, 10, 84, 110 và 111), tạo ra những thay đổi căn bản về mô hình tổ chức chính quyền địa phương và vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội.[10]

  • Về Mặt trận Tổ quốc (Điều 9): Khẳng định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là "cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân" và là "bộ phận của hệ thống chính trị". Bổ sung quy định về các tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc, bao gồm Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Sự thay đổi này nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc sắp xếp lại các tổ chức thành viên, giảm bớt sự trùng lặp trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ.[11]
  • Về Công đoàn (Điều 10): Nhấn mạnh Công đoàn Việt Nam là "đại diện duy nhất của người lao động ở cấp quốc gia trong quan hệ lao động", phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế và các cam kết trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
  • Về quyền trình dự án luật (Điều 84): Bổ sung Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội vào danh sách chủ thể có quyền trình dự án luật, pháp lệnh, tăng cường vai trò phản biện chính sách.
  • Về đơn vị hành chính (Điều 110): Đây là thay đổi lớn nhất. Điều luật mới quy định các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức thành hai cấp, gồm:
  1. Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
  2. Các đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do luật định.

Theo đó, cấp hành chính huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh chính thức bị xóa bỏ khỏi Hiến pháp.

  • Về chính quyền địa phương (Điều 111): Tổ chức chính quyền địa phương tương ứng với mô hình hai cấp hành chính mới. Cấp chính quyền gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân chỉ được tổ chức ở các đơn vị hành chính phù hợp do Quốc hội quy định, thay vì mọi cấp như trước đây.

So sánh với Hiến pháp 2013 trước sửa đổi

[sửa | sửa mã nguồn]

Bản so sánh chính thức được công bố trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ cho thấy những điểm khác biệt chính sau:

  • Về Điều 9: Bổ sung cụm từ "là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo" và mở rộng các chức năng của Mặt trận Tổ quốc.
  • Về Điều 10: Bổ sung vai trò đại diện duy nhất của Công đoàn ở cấp quốc gia.
  • Về Điều 84: Mở rộng chủ thể có quyền trình dự án luật.
  • Về Điều 110: Thay đổi từ mô hình ba cấp (tỉnh - huyện - xã) sang hai cấp (tỉnh - đơn vị hành chính dưới tỉnh).
  • Về Điều 111: Thay đổi từ nguyên tắc "cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND được tổ chức ở tất cả các đơn vị hành chính" sang "tổ chức ở các đơn vị hành chính phù hợp do Quốc hội quy định".[12]

Nội dung tiêu biểu của Hiến pháp

[sửa | sửa mã nguồn]

Chế độ chính trị

[sửa | sửa mã nguồn]

Điều 1 Hiến pháp khẳng định nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, thống nhất có chủ quyền đầy đủ đối với toàn bộ vùng lãnh thổ và vùng lãnh hải.

Theo Điều 2, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Điều 8 quy định "Các cơ quan Nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước có nghĩa vụ phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng".

Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội được hiến định tại Điều 4. Theo đó, Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Mọi hoạt động của tổ chức Đảng phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Chế độ kinh tế

[sửa | sửa mã nguồn]

Chương III của Hiến pháp 2013, đặc biệt là Điều 51, xác định nền kinh tế Việt Nam là "nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo." Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, bình đẳng, hợp tác, cạnh tranh theo pháp luật. Nhà nước bảo hộ tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức và không quốc hữu hóa.[13]

Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

[sửa | sửa mã nguồn]

Chương II của Hiến pháp quy định rõ các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Điều 14 nêu rõ: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật." Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.[14]

Một trong những điểm được các nhà nghiên cứu chú ý là việc các quyền tự do cơ bản như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng... thường đi kèm với mệnh đề "theo quy định của pháp luật", được giải thích là nhằm đảm bảo việc thực hiện tự do của người này không xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của người khác và trật tự xã hội. Hiến pháp cũng dành sự quan tâm đặc biệt đến quyền giáo dục, với quy định bậc tiểu học là bắt buộc và miễn phí, cùng chính sách hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.

Tổ chức bộ máy Nhà nước

[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ máy Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ và có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

  • Quốc hội: Là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, quyết định các chính sách cơ bản và thực hiện quyền giám sát tối cao.
  • Chủ tịch nước: Là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại, do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội.
  • Chính phủ: Là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội.
  • Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân: Thực hiện quyền tư pháp và thực hành quyền công tố, bảo vệ pháp luật.

Các biểu tượng quốc gia

[sửa | sửa mã nguồn]

Điều 13 Hiến pháp 2013 quy định rõ các biểu tượng quốc gia:

  1. Quốc kỳ: Hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.
  2. Quốc huy: Hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, xung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  3. Quốc ca: Là bài "Tiến quân ca".
  4. Quốc khánh: Ngày 2 tháng 9 năm 1945.
  5. Thủ đô: Hà Nội.

Tác động của sửa đổi Hiến pháp năm 2025

[sửa | sửa mã nguồn]

Sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Nghị quyết số 203/2025/QH15 có hiệu lực, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15 để cụ thể hóa việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. Đây là đợt cải cách thể chế và hành chính có quy mô lớn chưa từng có trong lịch sử Việt Nam hiện đại.[15]

Từ ngày 12 tháng 6 năm 2025, sau khi sáp nhập 52 tỉnh, thành phố thành 23 đơn vị hành chính cấp tỉnh mới, cả nước còn tổng cộng 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố trực thuộc trung ương.[16] Danh sách 34 tỉnh, thành phố bao gồm:

  • 6 thành phố trực thuộc trung ương: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ.
  • 28 tỉnh: Lào Cai, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Gia Lai, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đồng Nai, Tây Ninh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cà Mau, An Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh.

Theo báo cáo, 23 đơn vị cấp tỉnh mới được hình thành sau sáp nhập, trong khi 11 tỉnh, thành phố giữ nguyên hiện trạng, không thực hiện sắp xếp, gồm: Hà Nội, Huế, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Cao Bằng.[17]

Việc sáp nhập được thực hiện với tỷ lệ tán thành 96,44% của các đại biểu Quốc hội.[18]

Bãi bỏ cấp huyện và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp

[sửa | sửa mã nguồn]

Thực hiện chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, toàn bộ 696 đơn vị hành chính cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) chính thức kết thúc hoạt động. Các chức năng, nhiệm vụ của cấp huyện được chuyển giao cho cấp tỉnh và cấp xã, tương ứng với mô hình chính quyền hai cấp mới được hiến định.[19] Bên cạnh đó, cấp xã cũng được sáp nhập để giảm 60-70% số lượng, mỗi xã mới "gần như là một huyện nhỏ". Cả nước còn 3.321 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 3 loại hình: xã, phường, đặc khu.[20]

Cải cách hệ thống Tòa án

[sửa | sửa mã nguồn]

Song song với cải cách hành chính, hệ thống Tòa án nhân dân cũng được tổ chức lại theo mô hình ba cấp, thay vì bốn cấp như trước đây. Từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, hệ thống Tòa án bao gồm: Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh (34 tòa, được thành lập trên cơ sở hợp nhất các tòa án của các tỉnh, thành phố có địa giới hành chính liền kề), và 355 Tòa án nhân dân khu vực (thay thế cho Tòa án nhân dân cấp huyện). Các Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân dân cấp huyện chính thức chấm dứt hoạt động.[21] Theo báo cáo của Tòa án nhân dân Tối cao, trong năm 2025, các Tòa án đã thụ lý 683.341 vụ việc, giải quyết 618.341 vụ, đạt tỷ lệ 90,49%, tăng 0,77% so với năm trước, cho thấy hệ thống mới vẫn duy trì được sự ổn định và hiệu quả.[22]

Tác động đến doanh nghiệp và người lao động

[sửa | sửa mã nguồn]

Việc sáp nhập tỉnh thành và bỏ cấp huyện có tác động đáng kể đến cộng đồng doanh nghiệp và người lao động. Theo phân tích của Reeracoen Vietnam, doanh nghiệp cần cập nhật thông tin địa chỉ trụ sở, điều chỉnh các thủ tục hành chính liên quan đến đăng ký kinh doanh, thuế và bảo hiểm xã hội. Việc thay đổi địa giới hành chính cũng đặt ra các vấn đề về quy hoạch, giá thuê đất, và tiếp cận thị trường. Mặt khác, các tỉnh sau sáp nhập có quy mô lớn hơn, tạo ra không gian phát triển rộng hơn cho doanh nghiệp, gia tăng số lượng doanh nghiệp trên địa bàn và mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường.[23]

Kết quả thực hiện sau một năm (2025-2026)

[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chung từ các địa phương

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp (từ ngày 1 tháng 7 năm 2025), Chính phủ đã ban hành Kế hoạch tổ chức sơ kết trên phạm vi toàn quốc (Quyết định số 706/QĐ-TTg ngày 21 tháng 4 năm 2026). Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết, nhấn mạnh việc sơ kết nhằm đánh giá toàn diện, khách quan kết quả triển khai, làm rõ những kết quả nổi bật, các mô hình hiệu quả, cũng như những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.[24]

Tại nhiều địa phương như Quảng Trị, Thành phố Hồ Chí Minh, Lai Châu, các hội nghị sơ kết được tổ chức trong tháng 5 năm 2026 ghi nhận những kết quả tích cực bước đầu: hệ thống chính trị được sắp xếp tinh gọn hơn, hoạt động của các cơ quan hành chính dần đi vào ổn định, không để xảy ra gián đoạn hay khoảng trống trong thực hiện nhiệm vụ.[25][26]

Những thách thức và vấn đề phát sinh

[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình triển khai cũng bộc lộ một số thách thức. Theo báo Thanh Niên, đại biểu Quốc hội Tạ Văn Hạ nhận định việc sáp nhập tỉnh, bỏ cấp huyện và sắp xếp lại xã là chủ trương đúng đắn, phù hợp với yêu cầu thực tiễn, nhưng cần lưu ý đến vấn đề đảm bảo thuận tiện cho người dân trong tiếp cận dịch vụ công, đặc biệt là ở các xã vùng sâu, vùng xa sau khi quy mô xã được mở rộng.[27]

Việc quản lý địa bàn rộng lớn hơn, đảm bảo công bằng xã hội và giải quyết các vấn đề về tài sản công, trụ sở làm việc dôi dư sau sáp nhập cũng là những thách thức được ghi nhận.[28] Chi phí cho bộ máy hành chính trước cải cách chiếm khoảng 70% ngân sách, chỉ còn 30% dành cho các lĩnh vực như y tế, giáo dục, hạ tầng, cho thấy sự mất cân đối nghiêm trọng mà cải cách hướng tới giải quyết.[29]

Thông tin về khả năng tiếp tục sáp nhập

[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 2026, trên mạng xã hội lan truyền thông tin về khả năng tiếp tục sáp nhập từ 34 tỉnh, thành phố xuống còn 16 tỉnh, thành phố trong giai đoạn tiếp theo. Ngày 4 tháng 3 năm 2026, Bộ Nội vụ đã chính thức lên tiếng khẳng định thông tin này là hoàn toàn không chính xác. Vụ trưởng Vụ Chính quyền địa phương Phan Trung Tuấn nhấn mạnh: "Hiện nay Đảng, Quốc hội, Chính phủ không có chủ trương tiếp tục thực hiện sắp xếp, sáp nhập tỉnh, thành phố hoặc các đơn vị hành chính cấp xã."[30] Tuy nhiên, ngày 2 tháng 4 năm 2026, Bộ Chính trị đã ban hành kết luận về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa 16, trong đó đặt ra yêu cầu nghiên cứu sửa đổi tổng thể Hiến pháp năm 2013 để hướng tới mô hình chính quyền 3 cấp và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2045.[31]

Đánh giá và tranh luận

[sửa | sửa mã nguồn]

Quan điểm ủng hộ

[sửa | sửa mã nguồn]

Những người ủng hộ cải cách, bao gồm nhiều chuyên gia hành chính và đại biểu Quốc hội, nhận định việc sửa đổi Hiến pháp và chuyển đổi sang mô hình hai cấp chính quyền là bước đi tất yếu nhằm tinh gọn bộ máy, khắc phục tình trạng cồng kềnh, kém hiệu quả của chính quyền cấp huyện. TS Nguyễn Đức Quyền, chuyên gia quản lý công, Học viện Cán bộ TP.HCM, nhận định đây là bước đi mang tính lịch sử, "thể hiện tinh thần cách mạng tiến bộ, phá bỏ tư duy cũ để thực sự hướng đến một nền hành chính tinh gọn, hiệu quả, phục vụ người dân và doanh nghiệp."[32]

Bài viết trên Báo Tuổi Trẻ nhận định: "Việc Bộ Chính trị đề ra chủ trương nghiên cứu sáp nhập các tỉnh là rất phù hợp, kịp thời, bắt đúng bệnh tình trạng phát triển manh mún, đầu tư dàn trải và kém hiệu quả trong phân bổ nguồn lực thời gian qua."[33]

Về mặt kinh tế, theo Bộ Nội vụ, mỗi tỉnh sáp nhập thành công có thể tiết kiệm hàng trăm tỷ đồng mỗi năm từ chi thường xuyên như lương, phụ cấp, chi phí trụ sở.[34] Về mặt xã hội, việc sáp nhập giúp giảm tình trạng khác biệt lớn giữa các tỉnh về mức sống, thu nhập và cơ hội phát triển, đồng thời chất lượng dịch vụ công như y tế, giáo dục và giao thông được kỳ vọng sẽ được nâng cao.

Tạp chí Luật sư Việt Nam, trong một bài phân tích so sánh quốc tế, cho thấy việc tinh gọn bộ máy hành chính không chỉ giảm chi phí, tăng tính tự chủ địa phương mà còn phù hợp với xu hướng cải cách toàn cầu, tham chiếu kinh nghiệm từ các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.[35]

Quan điểm phê bình và lo ngại

[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh sự ủng hộ, cũng có nhiều ý kiến bày tỏ lo ngại về những xáo trộn trong quản lý nhà nước ở cấp cơ sở. Theo BBC News Tiếng Việt, một số ý kiến cho rằng thời gian chuẩn bị cho cuộc cải cách quy mô lớn này là tương đối ngắn, đặc biệt khi thời hạn hoàn thành sửa đổi Hiến pháp chỉ đến ngày 30 tháng 6 năm 2025.[36] Tốc độ sửa đổi Hiến pháp trong 43 ngày được một số chuyên gia đánh giá là "thần tốc", đặt ra câu hỏi về mức độ tham vấn và phản biện chính sách.

Các vấn đề về quy hoạch, quản lý tài sản công và tâm lý của đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện cũng là những thách thức được các phương tiện thông tin đại chúng ghi nhận.[37] Báo Thanh Niên dẫn ý kiến cho rằng khó khăn nhất có lẽ là ở cấp cơ sở vùng sâu, vùng xa, nơi hạ tầng công nghệ thông tin và năng lực cán bộ còn hạn chế.[38]

Về mặt pháp lý, một số chuyên gia lưu ý việc sửa đổi Hiến pháp chỉ tập trung vào 5 điều, trong khi nhiều quy định khác có liên quan cần được điều chỉnh đồng bộ. Việc chuyển đổi từ mô hình ba cấp sang hai cấp đòi hỏi phải sửa đổi hàng loạt luật chuyên ngành, gây áp lực lớn lên hệ thống lập pháp.

Hiến pháp qua các thời kỳ

[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1945, Việt Nam không có Hiến pháp. Kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, lịch sử lập hiến Việt Nam ghi nhận 5 bản Hiến pháp:

Hiến pháp năm 1946

[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là bản hiến pháp đầu tiên, được Quốc hội khóa I thông qua ngày 9 tháng 11 năm 1946 với 240 trên 242 phiếu tán thành. Bản hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban soạn thảo, bao gồm lời mở đầu và 7 chương, 70 điều, dựa trên ba nguyên tắc: đoàn kết toàn dân, đảm bảo các quyền tự do dân chủ, và thực hiện chính quyền mạnh mẽ của nhân dân.

Hiến pháp năm 1959

[sửa | sửa mã nguồn]

Được thông qua trong bối cảnh đất nước tạm thời bị chia cắt, xác nhận miền Bắc là nhà nước xã hội chủ nghĩa và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Bản Hiến pháp gồm 112 điều, chia thành 10 chương.

Hiến pháp năm 1980

[sửa | sửa mã nguồn]

Được ban hành sau khi đất nước thống nhất, thể chế hóa đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Lần đầu tiên khái niệm "sở hữu toàn dân" về đất đai được hiến định. Mô hình này có ảnh hưởng từ Hiến pháp Liên Xô năm 1977, với cơ chế Hội đồng Nhà nước vừa là cơ quan thường trực của Quốc hội, vừa nắm quyền hành pháp và lập pháp.

Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001)

[sửa | sửa mã nguồn]

Được ban hành trong công cuộc đổi mới, đánh dấu bước chuyển lớn về tư duy kinh tế, xóa bỏ cơ chế tập trung bao cấp, thừa nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Về mặt tổ chức, bản Hiến pháp này đã xóa bỏ Hội đồng Nhà nước, khôi phục chế định Chủ tịch nước là một cá nhân.[39]

Hiến pháp năm 2013

[sửa | sửa mã nguồn]

Là bản hiến pháp hiện hành, được thông qua sau quá trình lấy ý kiến nhân dân rộng rãi. Bản Hiến pháp này thể chế hóa các quan điểm của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), đồng thời bổ sung nhiều quy định mới về quyền con người và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước.

Định hướng sửa đổi tổng thể trong tương lai

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 2 tháng 4 năm 2026, Bộ Chính trị đã ban hành kết luận về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa 16, đặt mục tiêu đến năm 2030 xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi, mở đường cho kiến tạo phát triển. Đến năm 2045, hệ thống pháp luật phải đạt chất lượng cao, hiện đại, phù hợp thực tiễn và thông lệ quốc tế. Kết luận nhấn mạnh nhiệm vụ "nghiên cứu sửa đổi tổng thể Hiến pháp năm 2013" và hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật để vận hành hiệu quả mô hình chính quyền 3 cấp. Theo định hướng này, tư duy xây dựng pháp luật cần chuyển từ quản lý sang phục vụ, kiến tạo phát triển; dứt khoát từ bỏ quan điểm "không quản được thì cấm".[40]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "Trang điện tử về Hiến pháp năm 2013". Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  2. "NGHỊ QUYẾT 203/2025/QH15 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM". Báo điện tử Chính phủ - Xây dựng chính sách. ngày 28 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  3. "Vì sao Việt Nam tính sửa Hiến pháp vào lúc này?". BBC News Tiếng Việt. ngày 3 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  4. "Tìm hiểu một số điểm mới của Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2025". Học viện Chính sách và Phát triển. ngày 7 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  5. "Tìm hiểu một số điểm mới của Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2025". Học viện Chính sách và Phát triển. ngày 7 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  6. "Quy trình về việc sửa đổi Hiến pháp theo pháp luật hiện hành". Tạp chí Luật sư Việt Nam. ngày 11 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  7. "Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Lấy ý kiến nhân dân về sửa đổi Hiến pháp phải khoa học, dân chủ, thực chất". Chính sách và Cuộc sống - TTXVN. ngày 16 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  8. "Quốc hội thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp". Báo Nhân Dân điện tử. ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  9. "Quy trình về việc sửa đổi Hiến pháp theo pháp luật hiện hành". Tạp chí Luật sư Việt Nam. ngày 11 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  10. "Toàn văn Nghị quyết 203/2025/QH15". Báo điện tử Chính phủ - Xây dựng chính sách. ngày 28 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  11. "Quốc hội thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp". Báo Nhân Dân điện tử. ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  12. "So sánh các nội dung dự kiến sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 với quy định hiện hành". Báo điện tử Chính phủ - Xây dựng chính sách. ngày 29 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  13. "Hiến pháp năm 2013, Chương III". Cổng thông tin điện tử Chính phủ. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  14. "Văn bản hợp nhất Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau sửa đổi 2025)" (PDF). Cổng thông tin điện tử Chính phủ. ngày 1 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  15. "TOÀN VĂN: Nghị quyết số 202/2025/QH15 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh". Báo điện tử Chính phủ - Xây dựng chính sách. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  16. "Chi tiết 34 ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH". Báo điện tử Chính phủ - Xây dựng chính sách. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  17. "Sáp Nhập Tỉnh Thành 2025: Doanh Nghiệp Ở Việt Nam Và Người Lao Động Cần Làm Gì?". Reeracoen Vietnam. ngày 30 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  18. "Cấp huyện kết thúc hoạt động từ 1/7". VnExpress. ngày 14 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  19. Tô Thế (ngày 12 tháng 6 năm 2025). "Tên 34 tỉnh thành của Việt Nam từ 12.6.2025". Báo Lao Động. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  20. "Bộ Nội vụ trả lời về thông tin sáp nhập 34 tỉnh, thành còn 16 tỉnh, thành". VietNamNet. ngày 24 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  21. "Một số điểm mới của Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2025". Học viện Tòa án. ngày 24 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  22. "Ngành Tòa án nâng cao chất lượng xét xử, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong năm 2026". Tạp chí Tòa án nhân dân. ngày 9 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  23. "Sáp Nhập Tỉnh Thành 2025: Doanh Nghiệp Ở Việt Nam Và Người Lao Động Cần Làm Gì?". Reeracoen Vietnam. ngày 30 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  24. "Đánh giá toàn diện 1 năm vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp". Báo Nhân Dân điện tử. ngày 15 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  25. "Tiếp tục vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động hiệu lực, hiệu quả". Báo Quảng Trị. ngày 14 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  26. "Đánh giá toàn diện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp trên địa bàn sau 1 năm thực hiện". Cổng thông tin điện tử Chính phủ - TPHCM. ngày 7 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  27. "Sáp nhập tỉnh, xã, bỏ cấp huyện, làm sao để bộ máy vận hành hiệu quả?". Báo Thanh Niên. ngày 13 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  28. "Tác động của việc sáp nhập tỉnh, thành phố đến quản lý nhà nước". Tạp chí Luật sư Việt Nam. ngày 24 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  29. "Sáp nhập tỉnh, bỏ cấp huyện: Làm sao để giữ chân người tài?". HĐND tỉnh Hải Dương. ngày 15 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  30. "Bộ Nội vụ trả lời về thông tin sáp nhập 34 tỉnh, thành còn 16 tỉnh, thành". VietNamNet. ngày 24 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  31. "Nghiên cứu sửa đổi tổng thể Hiến pháp". VnExpress. ngày 9 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  32. "Bỏ cấp huyện: Bước đột phá tư duy nền hành chính". Báo Pháp Luật TP.HCM. ngày 4 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  33. "Sáp nhập tỉnh: đột phá và thách thức". Báo Tuổi Trẻ. ngày 22 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  34. "Lợi ích từ việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh". Học viện Hành chính và Nông thôn phát triển. ngày 21 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  35. "Tái cấu trúc hệ thống hành chính Việt Nam và lợi ích của việc bỏ cấp huyện trong bối cảnh so sánh quốc tế". Tạp chí Luật sư Việt Nam. ngày 3 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  36. "Vì sao Việt Nam tính sửa Hiến pháp vào lúc này?". BBC News Tiếng Việt. ngày 3 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  37. "Cấp huyện kết thúc hoạt động từ 1/7". VnExpress. ngày 14 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  38. "Sáp nhập tỉnh, xã, bỏ cấp huyện, làm sao để bộ máy vận hành hiệu quả?". Báo Thanh Niên. ngày 13 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  39. "Hiến pháp Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992". Bộ Tư pháp - Cổng thông tin điện tử Phổ biến Giáo dục Pháp luật. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.
  40. "Nghiên cứu sửa đổi tổng thể Hiến pháp". VnExpress. ngày 9 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2026.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]