Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Hiến pháp năm 1967 của Việt Nam Cộng hòa là bản hiến pháp được Nghị viện Việt Nam Cộng hòa thông qua vào ngày 18 tháng 3 năm 1967, là một cuộc tu chính lớn của bản Hiến pháp năm 1956. Bản hiến pháp này được chính phủ ban hành ngày 01 tháng 4 năm 1967, khai sinh ra nền Đệ Nhị Cộng hòa Việt Nam.

Lời mở đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung và đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến pháp 1967 tuy ghi ngắn gọn, tránh dùng những từ hoa mỹ và phô trương, nhưng những quyền căn bản của người dân đều được bảo đảm và ghi rõ từng khoản trong hiến pháp. Quy định mới nhất là cơ chế tam quyền phân lập và quyền đối lập chính trị, ngoài ra còn có thêm quy định về việc chống chủ nghĩa cộng sản.

Tam quyền phân lập[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung bản hiến pháp này đã nêu rõ nguyên tắc tam quyền phân lập. Điều 3 Hiến pháp 1967 viết: "Ba cơ quan lập pháp, hành pháptư pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của 3 cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa". Theo đó, quyền lực nhà nước không còn là một thể thống nhất, tập trung tuyệt đối mà phân chia thành 3 quyền: quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp như 3 cơ chế riêng thực hiện độc lập với nhau, kiềm chế và giám sát lẫn nhau. Chế độ Cộng hòa Tổng thống được quy định rõ. Riêng quyền Tư pháp độc lập với Hành pháp, được ủy nhiệm cho Tối cao Pháp Viện và được hành xử bởi các Thẩm phán xử án (Điều 76). Quyền lập pháp được trao cho Quốc hội, gồm có 2 viện là Hạ nghị viện (159 đại biểu, nhiệm kỳ 4 năm) và Thượng nghị viện (60 nghị sĩ, nhiệm kỳ 6 năm). Tổng thống là người nắm quyền hành pháp, được bầu lên với nhiệm kỳ 4 năm (từ năm 1974 thì Hiến pháp sửa đổi kéo dài nhiệm kỳ của Tổng thống thành 5 năm và cho phép Tổng thống được tái đắc cử 2 lần). Khác với mô hình bộ máy nhà nước của Hoa Kỳ, nhánh hành pháp của VNCH vẫn có chức danh Thủ tướng. Theo quy định của Hiến pháp thì Thủ tướng được bổ nhiệm bởi Tổng thống và chịu trách nhiệm về sự thi hành chính sách quốc gia trước Tổng Thống.

Theo lý thuyết thì Tổng thống không được quyền can thiệp vào nhánh lập pháp, nhưng trong thực tế thì khác. Tổng thống nắm nhiều thực quyền nên thường tự ý can thiệp vào Quốc hội VNCH, dù điều này là vi phạm nguyên tắc tam quyền phân lập. Ví dụ như năm 1969, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã vượt quyền hiến pháp, cụ thể là điều luật quy định sự bất khả xâm phạm của dân biểu, để bắt giữ và mở tòa án quân sự kết án dân biểu Trần Ngọc Châu 10 năm khổ sai, sau khi vị dân biểu này đề nghị thành lập một đoàn gồm các nhà lập pháp Việt Nam Cộng hòa để đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[1]

Năm 1972 khi quân Giải phóng miền Nam mở cuộc tấn công Quảng Trị, Quốc hội VNCH thông qua "Luật Ủy quyền" để Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu rộng quyền ứng phó với tình hình quân sự. Như vậy là đã vô hiệu hóa nguyên tắc tam quyền phân lập khi cho phép Tổng thống có thể vượt quyền hiến pháp, điều hành bằng các sắc luật mà không cần thông qua quốc hội.[2]

Quyền tự do căn bản[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến pháp 1967 quy định rõ về sự tôn trọng quyền tự do căn bản của người dân và sự bình đẳng giữa các sắc tộc, chủng tộc, tôn giáo, quan điểm chính trị (Điều 2). Đặc biệt, ngoài những quyền căn bản khác, Hiến pháp ghi rõ người dân có quyền tự do giáo dục (tuy nhiên "nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí", Điều 10) quyền tự do cư trú, đi lại, xuất ngoại và hồi hương (Điều 14) và quyền tự do lập nghiệp đoàn và quyền đình công (Điều 16), quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh (Điều 12), tự do truyền giáohành đạo tín ngưỡng (Điều 9), quyền tự do lập hội (Điều 13) và đảng chính trị (chính đảng, Điều 99).

Những quy định rõ ràng cũng được ghi thẳng và trực tiếp vào hiến pháp để bảo vệ người dân không bị oan: Trong trường hợp có nghi vấn phạm tội (Bị can), không bị tra tấn ép cung ("Không ai có thể bị tra tấn, đe dọa hay cưỡng bách thú tội. Sự nhận tội vì tra tấn, đe dọa hay cưỡng bách không được coi là bằng chứng buộc tội" - Điều 7) và phải xét xử công khai, bị can được có "quyền biện hộ" và được cho là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng buộc tội, bản án có hiệu lực, và trong trường hợp có nghi vấn (bằng chứng không rõ ràng) thì bị can được có lợi hoặc tuyên vô tội ("Sự nghi vấn có lợi cho bị can", Điều 7). Tất cả những quyền này được gọi là "quyền công dân căn bản" và không được vi phạm, dù có thay đổi luật (Điều 29).

Quyền đối lập của người dân[sửa | sửa mã nguồn]

Người dân được toàn quyền có quan điểm chính trị khác với nhà nước: Quyền đối lập công khai (Điều 13) và Quyền đối lập chính trị (Điều 101) và hiến pháp bảo vệ sự bình đẳng giữa các đảng phái, quyền hội họp và tự do tư tưởng, tự do ngôn luận của người dân (Điều 12 và 13 và điều 99), cấm chỉ mọi hình thức kiểm duyệt, ngoại trừ các bộ môn điện ảnhkịch trường (Điều 12). Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu hay Nghị sĩ vì những sự phát biểu và biểu quyết tại Quốc hội (Điều 37). Tuy nhiên, riêng đảng Cộng sản bị đặt ra ngoài vòng pháp luật và "Mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa cộng sản đều bị cấm chỉ" (Điều 4).

Đáng chú ý là Quân nhân không được sinh hoạt đảng phái (để giữ tính trung lập cho bộ máy quốc phòng) và nếu được đắc cử "vào các chức vụ dân cử hay tham chánh tại cấp bậc trung ương" (như quốc hội, các cấp chính quyền trung ương), phải xin giải ngũ hoặc nghỉ dài hạn (Điều 23).

Các vấn đề khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài những điều trên, Hiến pháp còn chú trọng đến giáo dụcnông nghiệp. Hiến pháp 1967 lần đầu tiên công nhận triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa là Dân tộc, khoa học và nhân bản (Điều 11: Văn hóa giáo dục phải được đặt vào hàng quốc sách trên căn bản dân tộc, khoa học và nhân bản). Hiến pháp cũng có những điều khoản riêng liên hệ đến mọi thành phần xã hội: công nhân, nông dân, người kinh doanh, người tu hành, người thiểu số,... Quyền tư hữu (quyền sở hữu cá nhân) và sự riêng tư được công nhận và tôn trọng (Điều 8: Đời tư, nhà cửa và thư tín của công dân phải được tôn trọng...).

Chủ nghĩa chống Cộng[sửa | sửa mã nguồn]

Điều 4 Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967 quy định "Việt Nam Cộng Hòa chống lại chủ nghĩa Cộng Sản dưới mọi hình thức. Mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa Cộng Sản đều bị cấm chỉ"

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Frances FitzGerald, Fire in the Lake, Vintage Book, New York, 1972, p. 513
  2. ^ "Nhìn lại kinh nghiệm đối lập thời VNCH"
  • Hoàng Cơ Thụy. Việt sử khảo luận. Paris: Nam Á, 2002.
  • Dommen, Arthur. The Indochinese Experience of the French and the Americans, Nationalism and Communism in Cambodia, Laos, and Vietnam. Bloomington, IN: Đại học Indiana Press, 2001.