Hội chứng tuổi thanh xuân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hội chứng tuổi thanh xuân
Seishun Buta Yarō light novel volume 1 cover.jpg
Bìa của tập đầu tiên có tên là "Seishun Buta Yarō wa Bunny Girl Senpai no Yume o Minai" với nhân vật Sakurajima Mai.
青春ブタ野郎
(Seishun Buta Yarō)
Thể loạiTâm lý, siêu nhiên[1]
Light novel
Tác giảKamoshida Hajime
Minh họaMizoguchi Keeji
Nhà xuất bảnASCII Media Works
Nhà xuất bản tiếng ViệtKim Đồng
Nhà xuất bản khác
Đối tượngNam
Ấn hiệuDengeki Bunko
Đăng tải10 tháng 4, 2014 – nay
Số tập11 (danh sách tập)
Manga
Tác giảKamoshida Hajime
Minh họaNanamiya Tsugumi
Nhà xuất bảnASCII Media Works
Nhà xuất bản khác
Đối tượngSeinen
Tạp chíDengeki G's Comic
Đăng tải1 tháng 12, 2015 – nay
Số tập6 (danh sách tập)
Anime
Seishun Buta Yarou logo.png
Seishun Buta Yarō wa Bunny Girl Senpai no Yume o Minai
Đạo diễnMasui Sōichi
Sản xuấtYokoyama Shuko
Kurokawa Yuichiro
Kịch bảnYokotani Masahiro
Âm nhạcFox Capture Plan
Hãng phimCloverWorks
Cấp phép
Kênh khác
Phát sóng 4 tháng 10, 2018 27 tháng 12, 2018
Số tập13 (danh sách tập)
Phim
  • Seishun Buta Yarō wa Yumemiru Shōjo no Yume o Minai
Wikipe-tan face.svg Cổng thông tin Anime và manga

Seishun Buta Yarō (青春ブタ野郎? n.đ "Thanh niên lợn khốn nạn") hay còn gọi tắt là Aobuta (青ブタ?) là loạt light novel do Kamoshida Hajime viết và Mizoguchi Keeji minh hoạ. Được xuất bản bởi ASCII Media Works dưới ấn hiệu Dengeki Bunko từ ngày 10 tháng 4 năm 2014. Bộ light novel này vốn không có tên gọi cố định, do tên của các tập được đặt theo cấu trúc Seishun Buta Yarō wa... no yume o minai ("Thanh niên lợn khốn nạn không mơ thấy...") nên tại Nhật Bản được gọi là Seishun Buta Yarō Series (春ブタ野郎シリーズ Seishun Buta Yarō Shirīzu?). Kim Đồng mua bản quyền và phát hành tại Việt Nam dưới nhan đề Hội chứng tuổi thanh xuân thông qua ấn hiệu WingsBooks.[2]

Một bản manga chuyển thể do Nanamiya Tsugumi minh hoạ, được xuất bản bởi ASCII Media Works thông qua tạp chí Dengeki G's Comic kể từ ngày 1 tháng 12 năm 2015. Một bộ anime truyền hình 13 tập lấy tên gọi của tập tiểu thuyết đầu tiên là Seishun Buta Yarō wa Bunny Girl Senpai no Yume o Minai ("Thanh niên lợn khốn nạn không mơ thấy tiền bối mặc đồ thỏ nữ)", do CloverWorks sản xuất và đã phát sóng từ ngày 4 tháng 10 cho đến ngày 27 tháng 12 năm 2018. Một bộ phim anime điện ảnh cũng do CloverWorks sản xuất, đã được công chiếu tại Nhật Bản vào ngày 15 tháng 6 năm 2019 lấy tên gọi của tập tiểu thuyết thứ 6 là Seishun Buta Yarō wa Yumemiru Shōjo no Yume o Minai ("Thanh niên lợn khốn nạn không mơ thấy thiếu nữ mộng mơ").

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc đời của Azusagawa Sakuta có một bước ngoặt bất ngờ khi cậu gặp nữ diễn viên tuổi teen nổi tiếng Sakurajima Mai, đang mặc một bộ đồ thỏ nữ sexy, lang thang trong một thư viện và không ai khác ở đó chú ý. Mai tò mò rằng Sakuta là người duy nhất có thể nhìn thấy cô ấy, vì những người khác không hề nhìn thấy hay để ý đến cô, ngay cả khi cô đã ăn mặc bình thường hoặc cố gắng tránh xa cuộc sống của người nổi tiếng. Hiện tượng này là "Hội chứng tuổi vị thành niên", Sakuta quyết định giải quyết bí ẩn này, đồng thời tiếp tục đến gần hơn với Mai và gặp gỡ những cô gái khác cũng mắc phải "Hội chứng tuổi vị thành niên".

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật chính[sửa | sửa mã nguồn]

Azusagawa Sakuta (梓川 咲太, Azusagawa Sakuta)

Lồng tiếng bởi: Kaito Ishikawa

Nhân vật chính của bộ phim. Cậu là học sinh năm 2 trường cao trung Minegahara. Cậu không quan tâm đến việc bị nói xấu bởi những người xung quanh. Cậu đã tin tưởng vào hội chứng tuổi dậy thì kể từ khi em gái mình xuất hiện những vết thương bất thường sau khi bị nói xấu trên mạng. Không bao lâu sau, cậu phải nhập viện do những vết cắt trên ngực. Sakuta là một người tốt bụng và hay giúp đỡ dù lúc nào cũng mang bộ mặt thờ ơ. Khi nói chuyện với người khác, anh cực kỳ thẳng thắn và trung thực.

Sakurajima Mai (桜島 麻衣, Sakurajima Mai)

Lồng tiếng bởi: Asami Seto

Senpai của Sakuta. Học sinh năm ba trường cao trung Minegahara. Cô bị mắc hội chứng tuổi dậy thì không lâu sau khi rời khỏi giới showbiz và biến mất khỏi kí ức của mọi người (nguyên nhân do cô bị bơ ở trường). Trong một lần mặc đồ thỏ đến thư viện, cô phát hiện ra Sakuta - một kouhai ở trường có thể nhìn thấy mình. Cô được Sakuta giúp đỡ để thoát khỏi hội chứng tuổi dậy thì. Cô đã trở thành bạn gái của Sakuta sau đó. Tính cách khôn ngoan, Mai là người chững chạc, lịch thiệp và rất tốt bụng: cô sẽ hay giúp đỡ người khác chẳng hạn như đối xử nhẹ nhàng với Kaede, một nửa là biết cô bé bị bệnh giống mình, phần còn lại là giúp ẻm có thể hết làm hikikimori. Trong khi cô dễ cáu kỉnh, cô là người có trái tim trong sáng, và đôi khi thậm chí còn ngại ngùng trước những trò đùa có phần quái dị của Sakuta. Giống như Sakuta, cô cũng rất vị tha.

Koga Tomoe (古 賀 朋 絵, Koga Tomoe)

Lồng tiếng bởi: Nao Toyama

Kouhai của Sakuta, học sinh năm nhất trường Minegahara. Cô là người luôn quan tâm đến suy nghĩ của người khác về mình (trái ngược với Sakuta). Cô mắc hội chứng tuổi dậy thì lần đầu khi được một thành viên trong đội bóng rổ tỏ tình và kẹt trong một vòng lặp vô hạn (ngày 27/6 cùng với Sakuta). Nguyên nhân là do người tỏ tình với cô là crush của Rena (bạn cùng lớp với Koga) và nếu Rena phát hiện, cô sẽ bị cô lập khỏi lớp. Khi biết được Sakuta cũng mắc vào vòng lặp, cô đã nhờ Sakuta trở thành người yêu hờ của mình đến hết kỳ nghỉ hè (Lúc này, Sakuta bị Mai hiểu lầm nhưng đã được tha thứ). Ban đầu, cô dự định sẽ đá Sakuta vào ngày bắt đầu kì nghỉ hè (Sakuta đồng ý do không có tình cảm với Koga). Nhưng sau đó, cô đã trót yêu Sakuta và bị vướng vào vòng lặp thời gian lần thứ 2. Tuy nhiên cả cô và Sakuta đã giải quyết rõ ràng và cả hai đã thoát khỏi vòng lặp.

Futaba Rio (双 葉 理 央, Futaba Rio)

Lồng tiếng bởi: Atsumi Tanezaki

Bạn cùng lớp của Sakuta. Học sinh năm 2 trường cao trung Minegahara, cô là thành viên duy nhất của clb khoa học. Cô bị mắc hội chứng tuổi dậy thì khiến một bản sao khác của cô xuất hiện (do thầm yêu Kunimi) đi đăng ảnh sexy của mình lên mạng xã hội. Trong thời gian mắc hội chứng này, cô đã đến ở nhờ nhà của Sakuta. Cô được Sakuta giúp đỡ để thoát khỏi hội chứng này.

Toyohama Nodoka (豊 浜 の ど か, Toyohama Nodoka)

Lồng tiếng bởi: Maaya Uchida

Em gái cùng cha khác mẹ của Mai. Theo volume 10 của bộ light novel, cô bằng tuổi với Sakuta. Cô mắc phải hội chứng tuổi dậy thì và thay đổi khuôn mặt với Mai (do ghen tị với tài năng của Mai, còn Mai ghen tị với tình yêu của mẹ Nodaka dành cho cô). Cô đã được Sakuta giúp đỡ để thoát khỏi hội chứng tuổi dậy thì và cuối cùng hai chị em làm hòa. Cô thực ra rất là hâm mộ Mai từ hồi còn bé lúc cô xem Mai diễn trên phim.

Azusagawa Kaede (梓 川 か え で, Azusagawa Kaede)

Lồng tiếng bởi: Yurika Kubo

Em gái ruột của Sakuta. Cô bị mất trí nhớ và đã bỏ học sau khi mắc hội chứng tuổi dậy thì, hội chứng này làm cô sợ người lạ (ngoại trừ Sakuta) chỉ muốn rúc trong nhà, tới nỗi không dám bén mảng đến cửa ra vào và sợ thiết bị điện tử như là điện thoại (Làm anh phải vứt luôn cái điện thoại của mình). Cô luôn được bao bọc bởi tình thương của Sakuta. Ở tập 11, cô đã tự lập ra một danh sách việc cần làm đến hoà nhập với xã hội và được Sakuta giúp đỡ rất nhiều. Sau một lần cố gắng đến trường, cô đã bất tỉnh và khôi phục trí nhớ, dù điều đó làm Sakuta khá buồn vì cô không nhớ tất cả mọi chuyện lúc bị tuổi dậy thì.

Makinohara Shouko (牧 之 原 翔 子, Makinohara Shōko)

Lồng tiếng bởi: Inori Minase

Theo volume 10 của bộ light novel, hiện tại Shouko đang là học sinh trung học năm nhất (tức 11 tuổi). Cô là nguyên nhân của vết sẹo trên người Sakuta. Cô bị mắc bệnh tim từ nhỏ và đang chờ được ghép tim, nếu không cô sẽ chết năm 11 tuổi. Sau khi biết tin Sakuta là người ghép tim cho mình, cô yêu Sakuta, mắc hội chứng tuổi dậy thì và du hành thời gian đến thời điểm 6 năm sau và trở thành học sinh năm hai của trường cao trung Minegahara (Xảy ra khi Sakuta học sơ trung năm cuối). Lúc này, Sakuta đang trầm cảm do em gái cậu mắc hội chứng tuổi dậy thì. Cô đã giúp Sakuta vực dậy và tiếp tục cuộc sống đồng thời trở thành mối tình đầu của cậu.

Nhân vật phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Kunimi Yūma (国 見 佑 真, Kunimi Yūma)

Lồng tiếng bởi: Yuma Uchida

Bạn thân của Sakuta và Futaba. Là một người đam mê bóng rổ. Đang hẹn hò với Saki và cũng làm việc trong nhà hàng gia đình với Sakuta.

Kamisato Saki (上 里 沙希, Kamisato Saki)

Lồng tiếng bởi: Himika Akaneya

Bạn gái của Kunimi. Cô nhiều lần yêu cầu Sakuta tránh xa bạn trai của mình nhưng đều bị Sakuta trêu chọc đến tức giận.

Các chuyển thể[sửa | sửa mã nguồn]

Light novel[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ truyện do Kamoshida Hajime sáng tác và Mizoguchi Keeji minh hoạ. Được xuất bản bởi ASCII Media Works dưới ấn hiệu Dengeki Bunko kể từ ngày 10 tháng 4 năm 2014. Tính tới ngày 10 tháng 12 năm 2020 đã có 11 tập truyện được xuất bản. Hiện bộ truyện đã được Kim Đồng mua bản quyền tại Việt Nam và phát hành dưới ấn hiệu WingsBooks.[2]

#Tựa đềPhát hành Tiếng NhậtPhát hành Tiếng Việt
1Hội chứng tuổi thanh xuân - Đàn chị đeo tai thỏ
Seishun Buta Yarō wa Banīgāru Senpai no Yume o Minai (青春ブタ野郎はバニーガール先輩の夢を見ない)
10/04/2014[3]
ISBN 978-404-8-66487-5
02/10/2020
ISBN 978-604-2-18240-9
2Hội chứng tuổi thanh xuân - Đàn em tiểu quỷ
Seishun Buta Yarō wa Puchidebiru Kōhai no Yume o Minai (青春ブタ野郎はプチデビル後輩の夢を見ない)
09/09/2014[4]
ISBN 978-404-8-66808-8
08/01/2021
ISBN 978-604-2-18659-9
3Hội chứng tuổi thanh xuân - Phù thủy ưa lí lẽ
Seishun Buta Yarō wa Rojikaru Witchi no Yume o Minai (青春ブタ野郎はロジカルウィッチの夢を見ない)
10/01/2015[5]
ISBN 978-404-8-69173-4
09/04/2021
ISBN 978-604-2-19101-2
4Hội chứng tuổi thanh xuân - Thần tượng cuồng chị gái
Seishun Buta Yarō wa Shisukon Aidoru no Yume o Minai (青春ブタ野郎はシスコンアイドルの夢を見ない)
09/05/2015[6]
ISBN 978-404-8-65135-6
09/07/2021[7]
ISBN 978-604-2-21855-9
5Hội chứng tuổi thanh xuân - Cô em gái cấm cung
Seishun Buta Yarō wa Orusuban Imōto no Yume o Minai (青春ブタ野郎はおるすばん妹の夢を見ない)
10/09/2015[8]
ISBN 978-404-8-65394-7
17/12/2021
ISBN 978-604-2-22780-3
6Hội chứng tuổi thanh xuân - Thiếu nữ mộng mơ
Seishun Buta Yarō wa Yumemiru Shōjo no Yume o Minai (青春ブタ野郎はゆめみる少女の夢を見ない)
10/06/2016[9]
ISBN 978-404-8-65891-1
04/03/2022
ISBN 978-604-2-23848-9
7Hội chứng tuổi thanh xuân - Cô gái tình đầu
Seishun Buta Yarō wa Hatsukoi Shōjo no Yume o Minai (青春ブタ野郎はハツコイ少女の夢を見ない)
08/10/2016[10]
ISBN 978-404-8-92281-4
1/7/2022
ISBN 978-604-2-23847-2
8Hội chứng tuổi thanh xuân - Em gái xuất hành
Seishun Buta Yarō wa Dekake Shisutā no Yume o Minai (青春ブタ野郎はおでかけシスターの夢を見ない)
10/04/2018[11]
ISBN 978-404-8-93585-2
28/10/2022
ISBN 978-604-2-27337-4
9Seishun Buta Yarō wa Randoseru Gāru no Yume o Minai (青春ブタ野郎はランドセルガールの夢を見ない)10/10/2018[12]
ISBN 978-404-9-12017-2
-
10Seishun Buta Yarō wa Mayoeru Shingā no Yume o Minai (青春ブタ野郎は迷えるシンガーの夢を見ない)07/02/2020[13]
ISBN 978-404-9-12850-5
-
11Seishun Buta Yarō wa Naichingēru no Yume o Minai (青春ブタ野郎はナイチンゲールの夢を見ない)10/12/2020[14]
ISBN 978-404-9-12902-1
-

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

Một bản manga chuyển thể do Nanamiya Tsugumi minh hoạ, được xuất bản bởi ASCII Media Works thông qua tạp chí Dengeki G's Comic kể từ ngày 1 tháng 12 năm 2015. Tập manga đầu tiên xuất bản vào ngày 8 tháng 10 năm 2016. Tính tới ngày 27 tháng 7 năm 2022 đã có 6 tập manga được xuất bản.

#Tựa đềNgày phát hành ISBN
1Seishun Buta Yarō wa Banīgāru Senpai no Yume o Minai 1 (青春ブタ野郎はバニーガール先輩の夢を見ない 1)8/10/2016[15]ISBN 978-404-8-92480-1
2Seishun Buta Yarō wa Banīgāru Senpai no Yume o Minai 2 (青春ブタ野郎はバニーガール先輩の夢を見ない 2)10/10/2018[16]ISBN 978-404-9-12068-4
3Seishun Buta Yarō wa Puchidebiru Kōhai no Yume o Minai 1 (青春ブタ野郎はプチデビル後輩の夢を見ない 1)10/10/2018[17]ISBN 978-404-9-12070-7
4Seishun Buta Yarō wa Puchidebiru Kōhai no Yume o Minai 2 (青春ブタ野郎はプチデビル後輩の夢を見ない 2)10/12/2018[18]ISBN 978-404-9-12258-9
5Seishun Buta Yarō wa Rojikaru Witchi no Yume o Minai 1 (青春ブタ野郎はロジカルウィッチの夢を見ない1)26/12/2020[19]ISBN 978-404-9-13570-1
6Seishun Buta Yarō wa Rojikaru Witchi no Yume o Minai 2 (青春ブタ野郎はロジカルウィッチの夢を見ない2)27/7/2022[20]ISBN 978-4-04-913894-8

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

Một bộ anime truyền hình chuyển thể gồm 13 tập, với tên theo tựa đề tập light novel đầu tiên là Seishun Buta Yarō wa Bunny Girl Senpai no Yume o Minai ("Thanh niên lợn khốn nạn không mơ thấy tiền bối mặc đồ thỏ nữ"), chuyển thể từ tập 1 đến tập 5 của light novel. Được sản xuất bởi studio CloverWorks, do Masui Soichi đạo diễn, Yokotani Masahiro viết kịch bản và Tamura Satomi thiết kế nhân vật. Phát sóng kể từ ngày 4 tháng 10 cho đến ngày 27 tháng 12 năm 2018.

Một bộ anime movie dài 89 phút, với tên theo tựa đề tập light novel thứ 6 là Seishun Buta Yarō wa Yumemiru Shōjo no Yume o Minai ("Thanh niên lợn khốn nạn không mơ thấy thiếu nữ mộng mơ"), chuyển thể từ tập 6 đến tập 7 của light novel. Được sản xuất bởi studio CloverWorks, do Masui Soichi đạo diễn, Yokotani Masahiro viết kịch bản và Tamura Satomi thiết kế nhân vật. Phim công chiếu tại Nhật Bản vào ngày 15 tháng 6 năm 2019.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Aniplex of America Adds Rascal Does Not Dream of Bunny Girl Senpai and DAKAICHI – I'm being harassed by the sexiest man of the year - to Fall 2018 Anime Line-Up”. Anime News Network. ngày 22 tháng 9 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2018.
  2. ^ a b “Công bố bản quyền Aobuta”. Trang Facebook chính thúc của WingsBooks. ngày 2 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2021.
  3. ^ “青春ブタ野郎はバニーガール先輩の夢を見ない” (bằng tiếng Nhật). Dengeki Bunko. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2019.
  4. ^ “青春ブタ野郎はプチデビル後輩の夢を見ない” (bằng tiếng Nhật). Dengeki Bunko. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2021.
  5. ^ “青春ブタ野郎はロジカルウィッチの夢を見ない” (bằng tiếng Nhật). Dengeki Bunko. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2021.
  6. ^ “青春ブタ野郎はシスコンアイドルの夢を見ない” (bằng tiếng Nhật). Dengeki Bunko. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2021.
  7. ^ “HỘI CHỨNG TUỔI THANH XUÂN - TẬP 4” (bằng tiếng vn). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2021.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  8. ^ “青春ブタ野郎はおるすばん妹の夢を見ない” (bằng tiếng Nhật). Dengeki Bunko. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2021.
  9. ^ “青春ブタ野郎はゆめみる少女の夢を見ない” (bằng tiếng Nhật). Dengeki Bunko. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2021.
  10. ^ “青春ブタ野郎はハツコイ少女の夢を見ない” (bằng tiếng Nhật). Dengeki Bunko. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2021.
  11. ^ “青春ブタ野郎はおでかけシスターの夢を見ない” (bằng tiếng Nhật). Dengeki Bunko. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2021.
  12. ^ “青春ブタ野郎はランドセルガールの夢を見ない” (bằng tiếng Nhật). Dengeki Bunko. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2019.
  13. ^ “青春ブタ野郎は迷えるシンガーの夢を見ない” (bằng tiếng Nhật). Dengeki Bunko. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2021.
  14. ^ “青春ブタ野郎はナイチンゲールの夢を見ない” (bằng tiếng Nhật). Dengeki Bunko. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2021.
  15. ^ “青春ブタ野郎はバニーガール先輩の夢を見ない 1” (bằng tiếng Nhật). Kadokawa. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2021.
  16. ^ “青春ブタ野郎はバニーガール先輩の夢を見ない 2” (bằng tiếng Nhật). Kadokawa. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2021.
  17. ^ “青春ブタ野郎はプチデビル後輩の夢を見ない 1” (bằng tiếng Nhật). Kadokawa. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2021.
  18. ^ “青春ブタ野郎はプチデビル後輩の夢を見ない 2” (bằng tiếng Nhật). Kadokawa. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2021.
  19. ^ “青春ブタ野郎はロジカルウィッチの夢を見ない 1” (bằng tiếng Nhật). Kadokawa. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2021.
  20. ^ “青春ブタ野郎はロジカルウィッチの夢を見ない 2” (bằng tiếng Nhật). Kadokawa. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2022.