HQ-381
Tàu 381
| |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | Tàu 381 |
| Xưởng đóng tàu | Nhà máy đóng tàu Ba Son |
| Hạ thủy | 1999 |
| Nhập biên chế | 1999 |
| Hoạt động | 1999-đến nay |
| Cảng nhà | Quân cảng Cam Ranh, Khánh Hòa |
| Tình trạng | Đang hoạt động |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | Tàu tên lửa BPS-500 |
| Trọng tải choán nước |
|
| Chiều dài | 62 mét (203,4 ft) |
| Sườn ngang | 11 m (36,1 ft) |
| Mớn nước | 2,2 m (7,2 ft) |
| Động cơ đẩy | 2× Động cơ diesel 19 600 mã lực |
| Tốc độ |
|
| Tầm xa | 14 hải lý/h - 2 200 hải lý - 30 ngày |
| Thủy thủ đoàn tối đa | 49 |
| Hệ thống cảm biến và xử lý | |
Tàu 381 là chiếc duy nhất được sản xuất thuộc lớp BPS-500. Đây cũng là chiếc tàu tuần tra mang tên lửa diệt hạm đầu tiên do Việt Nam tự đóng trong nước với sự hỗ trợ của Nga.
Tàu hiện đang phục vụ trong thành phần của Lữ đoàn 162, Bộ tư lệnh Vùng 4 Hải quân.
Hợp tác sản xuất
[sửa | sửa mã nguồn]Chiếc tàu tên lửa duy nhất BPS-500 thuộc dự án KBO 2000 được Việt Nam - Nga cùng thiết kế và chế tạo.
KBO 2000 là một dự án hợp tác đóng tàu quân sự giữa Nga và Việt Nam, trong đó đại diện phía Nga là Cục thiết kế phương Bắc (SPKB). Trong dự án này, SPKB đã tham gia thiết kế ra đề án tàu hộ tống tên lửa BPS-500 theo yêu cầu của Hải quân nhân dân Việt Nam.
Tiền thân của thiết kế tàu BPS-500 là thiết kế tàu tuần tra biên phòng PS-500 được SPKB giới thiệu cho lực lượng phòng vệ bờ biển thuộc FSB của Liên bang Nga hồi đầu những năm 1990. Mẫu thiết kế này dự kiến sử dụng 01 pháo chính 57mm và 01 pháo tự động nhiều nòng AK-630, không có tên lửa chống hạm. Đề án thiết kế này là sản phẩm đầu tay của Ban thiết kế tàu chuyên nhiệm hạng nhẹ, đơn vị thiết kế mới được SPKB thành lập vào những năm đầu của Liên bang Nga trong 1 nỗ lực tiếp cận thị trường tàu quân dụng cỡ nhỏ vốn không phải sở trường của SPKB. Giai đoạn này, thiết kế tàu nhỏ của SPKB dù được đánh giá là ứng dụng không ít các tiến bộ kỹ thuật phát triển từ cuối thời Xô viết vượt trên mặt bằng công nghệ đại trà hiện có của Nga, nhưng lại không chen chân vào được thị trường tàu tuần tra cỡ nhỏ hầu như đóng băng do cắt giảm ngân sách quốc phòng hồi đầu những năm 1990 ở Nga.
Năm 1994, đề án thiết kế tàu tuần tra biên phòng 500 tấn PS-500 của SPKB được Tổng cục Hợp tác công nghệ quân sự quốc tế thuộc BQP Liên bang Nga đưa vào danh mục được phép xuất khẩu và chuyển giao công nghệ. Với định hướng thiết kế tàu pháo làm nhiệm vụ tuần tra phản ứng nhanh và hộ vệ vùng biển ven bờ, tàu PS-500 được trang bị 01 pháo hạm 76,2mm, 01 pháo tự động AK-630 và 01 cơ cấu giá phóng tên lửa phòng không tầm thấp “Igla”, nhưng không có tên lửa chống hạm dù vẫn bố trí điểm gắn bệ phóng tên lửa chống hạm để hoán cải sang tàu tên lửa khi cần huy động. Mục tiêu của SPKB khi chào bán mẫu tàu đề án thiết kế PS-500 là lấy tiền và kinh nghiệm để hoàn thiện công nghệ thiết kế tàu tuần tra và hộ vệ hạng nhẹ có tính năng “giảm lộ diện điện từ” có thể cạnh tranh được với các đề án thiết kế tàu tàng hình phương Tây.
Các cơ quan chức năng của Việt Nam tiếp cận và xây dựng các phương án mua thiết kế tàu PS-500 trong thời gian Chương trình ĐT-2000 chờ được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Năm 1993, 1 phái đoàn của BQP và Quân chủng Hải Quân đã tiến hành đàm phán với đại diện Công ty Rosoboronexport và tới thăm cơ sở thiết kế đề án tàu liên quan thuộc Viện SPKB. Kết quả chuyến thăm làm việc này là 1 bản ghi nhớ về hợp tác kỹ thuật hải quân giữa VN và LB Nga, trong đó các viện thiết kế tàu chiến hai phía (Nga cử Viện SPKB, Việt Nam cử Viện thiết kế tàu quân sự) cùng hợp tác thiết kế mẫu tàu chiến đấu phù hợp cho Hải quân Việt Nam.
Năm 1994, sau khi được phép tham gia hợp tác kỹ thuật quân sự quốc tế và trên cơ sở bản ghi nhớ, đề án thiết kế sơ bộ tàu tuần tra PS-500 nằm trong danh mục đề án hợp tác đã được Viện SPKB giới thiệu cho đối tác Việt Nam. Trưởng ban thiết kế đề án tàu quân sự hạng nhẹ Viện SPKB là công trình sư trưởng Valentin Ivanovich Mutikhin (Валентин Иванович Мутихин) làm chủ nhiệm đề án thiết kế PS-500 hợp tác phát triển cùng Viện thiết kế tàu quân sự Việt Nam.
Quá trình hợp tác phát triển thiết kế tàu PS-500 cho Hải quân VN diễn ra trong các năm 1995-1996, với thành quả là mẫu đề án thiết kế tàu tuần tra chiến đấu BPS-500 (БПС-500 = Боевое Патрульное Судно-500). BPS-500 thực chất là biến thể tàu tấn công tốc độ cao phục vụ các nhiệm vụ của hải quân Việt Nam, được phát triển từ nguyên mẫu tàu tuần tra biên phòng PS-500 của Viện SPKB. Tàu BPS-500 được thiết kế theo phương pháp mô đun (модульно-агрегатный метод = phương pháp lắp tổng đoạn), cho phép giảm thời gian đóng mới tàu.
Sau khi nghiệm thu hồ sơ thiết kế kỹ thuật và thiết kế công nghệ tàu BPS-500, đầu năm 1997 phía Việt Nam chính thức lựa chọn phương án mua vật tư, vũ khí trang bị kỹ thuật hải quân và chuyển giao công nghệ đóng tàu theo phương pháp mô đun cho đề án thiết kế BPS-500 như sau: mua 02 bộ vũ khí trang bị kỹ thuật và 2 máy tàu hoàn chỉnh diesel MTU-8000 cho 02 tàu BPS-500; mua toàn bộ các mô đun thân vỏ của chiếc tàu BPS-500 đầu tiên để mang về đấu đà lắp ráp các tổng đoạn tại Xí nghiệp liên hợp Ba Son dưới sự giám sát và cố vấn kỹ thuật của chuyên gia Nga; mua mô đun mũi và đuôi tàu của chiếc BPS-500 thứ hai, các mô đun còn lại của chiếc BPS-500 thứ hai được đóng trực tiếp tại Ba Son.
Tháng 4/1997, Xưởng đóng tàu Phương Bắc của Nga bắt đầu khởi công cắt tôn và đóng các phân đoạn, tổng đoạn cho chiếc BPS-500 đầu tiên và tổng đoạn mũi, đuôi tàu cho chiếc BPS-500 thứ 2 để giao hàng cùng với lô 02 bộ vũ khí trang bị kỹ thuật và máy tàu BPS-500 cho Việt Nam. Sau khi nhận hàng và đấu đà lắp ráp, Xí nghiệp Ba Son đã cho hạ thuỷ chiếc tàu BPS-500 đầu tiên vào ngày 24/6/1998, rồi đến tháng 3/1999 tiếp tục lắp đặt hoàn chỉnh thiết bị, chạy thử nghiệm, kiểm tra và hiệu chỉnh vũ khí, khí tài (Theo bài báo Jane’s đăng tháng 3/1999 thì khi đó BPS-500 đã hoàn thành, hạ thủy và đang trải qua thử nghiệm trên biển).[4]
Tàu được đóng theo công nghệ module tiên tiến với bề mặt góc cạnh nhằm tăng khả năng tán xạ radar. Điểm đặc biệt của tàu là không sử dụng chân vịt như truyền thống mà sử dụng hệ thống đẩy pump-jet cho khả năng vận hành tốt hơn ở vùng nước nông, khả năng cơ động cao hơn nhiều khi kết hợp với vòi phụt chỉnh hướng và độ ồn khi vận hành giảm đáng kể so với chân vịt thường.[5]
Tuy nhiên, sau khi đóng xong chiếc tàu BPS-500 đầu tiên, Việt Nam đã dừng hẳn chương trình đóng tàu này, nguyên nhân được một số phương tiện truyền thông nước ngoài cho là thiết kế của BPS-500 đã lỗi thời, không đáp ứng được các yêu cầu mà Việt Nam đề ra hoặc không thể so sánh được với khả năng của lớp tàu tên lửa Project 1241.8 Molniya nên dự án đã bị hủy bỏ.
Lỗi đầu tiên thuộc về hệ thống động lực, việc sử dụng pump-jet khiến chi phí đóng tàu bị đẩy lên cao, chế tạo phức tạp hơn và vận hành thiếu ổn định, hiệu suất kém khi chạy tải thấp (chỉ nên chạy ở tốc độ cao). Bên cạnh đó kết cấu thân tàu cũng bị đánh giá là có khả năng chịu sóng gió không tốt, không thích hợp khi triển khai tại những vùng biển xa.[6]
Nâng cấp
[sửa | sửa mã nguồn]Theo hợp đồng với Công ty cổ phần Rosoboronexport, trong năm 2013, Cục thiết kế phương Bắc của Nga đã bắt đầu công việc tham gia hỗ trợ kỹ thuật trong sửa chữa tái tạo và nâng cấp chiếc tàu tuần tra tên lửa BPS-500 duy nhất (Tàu 381) cho Hải quân nhân dân Việt Nam, thông tin này đã được xác nhận trong báo cáo tài chính năm 2013 của công ty.[7]
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ Sức mạnh tàu tên lửa BPS-500 sau khi được nâng cấp của Việt Nam phunutoday.vn
- ^ Điểm danh những tàu chiến chủ lực của Hải quân Việt Nam Báo Tiền Phong
- ^ Lộ diện bản nâng cấp cho chiến hạm BPS-500 của Việt Nam news.zing.vn
- ^ Nga nâng cấp tàu tên lửa 'độc nhất' BPS-500 cho Việt Nam Lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2016 tại Wayback Machine Báo Đất Việt
- ^ Tại sao Việt Nam phải nâng cấp tàu tên lửa BPS-500? Báo Kiến Thức
- ^ Vì sao Việt Nam nâng cấp tàu tên lửa BPS-500? VTC News
- ^ Nga nâng cấp tàu tên lửa 'độc nhất' BPS-500 cho Việt Nam Lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2016 tại Wayback Machine Báo Người Đưa Tin