Hang Guilá Naquitz

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hang Guilá Naquitz
Hang động Guila Naquitz
mặt đá bị sụp đổ của hang động với những bức tranh lộ ra ngoài
Hang Guilá Naquitz trên bản đồ Mexico
Hang Guilá Naquitz
Vị trí ở Mexico
Vị trí Gần di tích khảo cổ Yagul. Oaxaca
Vùng Mexico
Tọa độ 16°58′31″B 96°18′32″T / 16,97528°B 96,30889°T / 16.97528; -96.30889Tọa độ: 16°58′31″B 96°18′32″T / 16,97528°B 96,30889°T / 16.97528; -96.30889

Hang Guilá NaquitzOaxaca, Mexico là nơi sinh trưởng sớm của một số loại cây lương thực, bao gồm teosinte (một tổ tiên của ngô), [1] từ chi Cucurbita, bầu bí (Lagenaria siceraria), và đậu. Cucurbita, bầu (Lagenaria siceraria), và đậu ve.[2][3][4][5] Địa điểm này là vị trí của những bằng chứng được biết đến sớm nhất về sự thuần hóa của bất kỳ cây trồng nào trên lục địa, Cucurbita pepo, cũng như sự thuần hóa được biết đến sớm nhất của ngô. [6]

Bằng chứng đại hóa thạch cho cả hai loại cây trồng có mặt trong hang động. Tuy nhiên, trong trường hợp ngô, các nghiên cứu hạt phấn và phân bố địa lý ngô hiện đại cho thấy ngô được thuần hóa ở một khu vực khác của Mexico. [7]

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Hang động 5 km (3,1 mi) về phía tây bắc của Mitla ở chân vách đá tăng 300 m (980 ft) phía trên tầng thung lũng bán kiến ở độ cao 1.926 m (6,319 ft). Có năm tầng sâu đến 140 cm (55 in).[7][8] Lối vào hang động là 8 nhân 10 mét (26 nhân 33 ft).[9] Nó nằm ở cực đông của Thung lũng Oaxaca. [10]

Con người sinh sống[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi những bằng chứng đầu tiên của con người trong Hang Guilá Naquitz có niên đại khoảng 10.750 năm, thì người dân không tiếp tục sinh sống và không kéo dài một năm. Con người đã ngừng sống trong hang khoảng 500 TCN. Con người sống trong hang sáu khoảng thời gian riêng biệt từ khoảng 10750 đến 8.900 năm TCN và một lần nữa từ khoảng 1.300 đến 500 năm BP. Những cư dân trước đây là những người hái lượm gốm trước đây chỉ sống trong hang từ tháng 8 đến tháng 10 - tháng 12. [10]

Thuần hóa cây trồng[sửa | sửa mã nguồn]

Các bằng chứng được biết đến sớm nhất về sự thuần hóa của Cucurbita, bản địa châu Mỹ, có niên đại từ 8.000-10.750 năm TCN, trước khi thuần hóa các loại cây trồng khác như ngô và đậu trong khu vực khoảng 4.000 năm. [2][7] Bằng chứng này được tìm thấy trong Hang Guilá Naquitz và bốn hang động Mexico khác trong một loạt các cuộc khai quật vào những năm 1960, có thể bắt đầu vào năm 1959.[8]

Các cuộc khai quật tiếp theo tại địa điểm Guilá Naquitz được thực hiện vào những năm 1970 bởi một nhóm nghiên cứu do Kent V. Flannery thuộc Đại học Michigan đứng đầu. Sau đó, phương pháp tính niên đại chính xác hơn bằng cách sử dụng máy đo phổ khối gia tốc cung cấp ngày cụ thể hơn. Bằng chứng vừng chắc của C. pepo được thuần hóa đã được tìm thấy trong Hang Guilá Naquitz ở dạng tăng độ dày vỏ và các nhánh lớn hơn trong các lớp phân tầng mới hơn của hang. Bởi khoảng 8.000 năm TCN, C. pepo được tìm thấy thường xuyên dày hơn 10 mm (0,39 in). Cuống của Cucurbita hoang luôn dưới ngưỡng 10 mm (0,39 in) này. Những thay đổi về hình dạng và màu sắc quả cho thấy sự sinh sản cố ý của C. pepo xảy ra không quá 8.000 năm TCN. [2][3] Trong cùng một khung thời gian, độ dày vỏ trung bình tăng từ 0,84 mm (0,033 in) lên 1,15 mm (0,045 in).

Quá trình phát triển kiến thức nông nghiệp về canh tác cây trồng diễn ra trong khoảng 5.000–6.500 năm ở Trung Bộ châu Mỹ. được thuần hóa đầu tiên, với ngô thứ hai và sau đó đậu được thuần hóa, trở thành một phần của hệ thống canh tác bầu bạn Ba Chị em.[11][12]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Benz, Bruce F. (2005). “Archaeological evidence of teosinte domestication from Guilá Naquitz, Oaxaca”. Proceedings of the National Academy of Sciences (National Academy of Sciences of the United States of America) 98 (4): 2104–2106. JSTOR 3055008. PMC 29389. PMID 11172083. doi:10.1073/pnas.98.4.2104. 
  2. ^ a ă â Smith, Bruce D. (tháng 5 năm 1997). “The Initial Domestication of Cucurbita pepo in the Americas 10,000 Years Ago”. Science (Washington, DC: American Association for the Advancement of Science) 276: 932–934. doi:10.1126/science.276.5314.932. 
  3. ^ a ă “Cucurbitaceae--Fruits for Peons, Pilgrims, and Pharaohs”. University of California at Los Angeles. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2013. 
  4. ^ Feinman, Gary M.; Manzanilla, Linda (2000). Cultural Evolution: Contemporary Viewpoints. New York: Kluwer Academic. tr. 20–25, 31. ISBN 0-306-46240-0. 
  5. ^ Harrington, Spencer P. M. (1997). “Earliest Agriculture in the New World”. Archaeology (Archaeological Institute of America) 50 (4). Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2013. 
  6. ^ “Prehistoric Caves of Yagul and Mitla in the Central Valley of Oaxaca”. UNESCO. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013. 
  7. ^ a ă â Piperno, D. R.; Flannery, K. V. (tháng 2 năm 2001). “The Earliest Archaeological Maize (Zea mays L.) from Highland Mexico: New Accelerator Mass Spectrometry Dates and Their Implications”. Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America (National Academy of Sciences of the United States of America) 98 (4): 2101–2103. JSTOR 3055007. PMC 29388. PMID 11172082. doi:10.1073/PNAS.98.4.2101. 
  8. ^ a ă Schoenwetter, James (tháng 4 năm 1974). “Pollen Records of Guila Naquitz Cave”. American Antiquity (Society for American Archaeology) 39 (2): 292–303. JSTOR 279589. doi:10.2307/279589. 
  9. ^ Smith, Bruce D. (2000). Guilá Naquitz Revisited. New York: Kluwer Academic. tr. 15–60. ISBN 978-1-4613-6871-7. doi:10.1007/978-1-4615-4173-8_2. 
  10. ^ a ă Whitaker, Thomas W.; Cutler, Hugh C. (1971). “Pre-Historic Cucurbits from the Valley of Oaxaca”. Economic Botany (New York Botanical Garden Press) 25 (2): 123–127. JSTOR 4253237. doi:10.1007/bf02860073. 
  11. ^ Landon, Amanda J. (2008). “The "How" of the Three Sisters: The Origins of Agriculture in Mesoamerica and the Human Niche”. Nebraska Anthropologist (Lincoln, NE: University of Nebraska-Lincoln): 110–124. 
  12. ^ Bushnell, G. H. S. (1976). “The Beginning and Growth of Agriculture in Mexico”. Philosophical Transactions of the Royal Society of London (London: Royal Society of London) 275 (936): 117–120. doi:10.1098/rstb.1976.0074.