Hoàn Y

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Hoàn Y (tiếng Trung: 桓伊; bính âm: Huán Yī, ? - ?), tự Thúc Hạ, tên lúc nhỏ là Tử Dã [1] hay Dã Vương[2], người huyện Chí, Tiếu Quốc [3], danh sĩ, nhà âm nhạc, tướng lĩnh nhà Đông Tấn. Ông có quan hệ họ hàng với danh tướng Hoàn Tuyên.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Chính trị - Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Y có tài võ nghệ, tính thông minh nhạy bén, lại giản dị ngay thẳng, rất được các danh sĩ Vương Mông, Lưu Đàm khen ngợi. Từng làm Tham quân sự cho nhiều nơi, rồi làm Tham quân cho Đại tư mã Hoàn Ôn. Khi nhà Tiền Tần cường thịnh, biên thuỳ nhiều việc, triều đình muốn tuyển người bảo vệ bờ cõi, bèn thụ Y làm Hoài Nam thái thú.

Năm Hàm An đầu tiên (371), Hoàn Ôn vây Thọ Xuân đang bị con của phản tướng Viên Chân là Cẩn chiếm cứ. Y cùng Tạ Huyền phá tướng Tiền Tần là bọn Vương Giám, Trương Hào đến giúp Cẩn, nhờ công được phong Tuyên Thành [4] huyện tử, Dự Châu thứ sử, tiến làm Đốc quân sự 12 quận thuộc Dự Châu và 5 quận Giang Tây thuộc Dương Châu, nhiệm chức Kiến uy tướng quân, Lịch Dương thái thú. Lại tiến làm Đô đốc Dự Châu chư quân sự, nhiệm Tây trung lang tướng, Dự Châu thứ sử.

Năm Thái Nguyên thứ 8 (383), lại cùng Quan quân tướng quân Tạ Huyền, Phụ quốc tướng quân Tạ Diễm đại phá quân Tiền Tần ở Phì Thủy, nhờ công được phong Vĩnh Tu [5] huyện hầu, tiến hiệu Hữu quân tướng quân.

Năm Thái Nguyên thứ 9 (384), Hoàn Xung mất, Y được thăng làm Đô đốc quân sự của Giang Châu, 10 quận thuộc Kinh Châu, 4 quận thuộc Dự Châu, nhiệm chức Giang Châu thứ sử, Giả tiết. Y đến trấn, cho rằng biên cảnh vô sự, nên thi hành chính sự khoan hoà; lại dâng sớ rằng Giang Châu thiếu thốn, nhiều năm mất mùa, chỉ còn hơn 56000 hộ, nên gộp các huyện nhỏ, tha cho các quận còn nợ gạo, dời Châu trị về Dự Chương. Chiếu lệnh dời Châu trị về Tầm Dương, còn lại đều nghe theo. Ông ở trấn 10 năm, tuỳ nghi vỗ về, trăm họ được yên.

Sau đó được triệu về làm Hộ quân tướng quân. Trong phủ Hữu quân của Y có hơn ngàn người, đều được theo về phủ Hộ quân. Mất khi đang ở chức, tặng Hữu tướng quân, gia Tán kị thường thị, thuỵ là Liệt.

Khi xưa ở trận Phì Thuỷ, Y bắt được 600 bộ giáp, lâm chung, dặn người nhà dâng lên triều đình. Có chiếu khen ngợi lòng trung thành của ông mà nhận.

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Giang Tả đệ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Y giỏi âm nhạc, được người thời bấy giờ ca ngợi là "Giang Tả đệ nhất". Ông giỏi nhất là thổi địch (sáo ngang), được gọi là "Địch thánh", thường sử dụng cây địch có tên là Kha Đình, do nhà âm nhạc, nhà văn nổi tiếng Thái Ung đời nhà Hán chế tác [6].

Địch thượng tam lộng[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sĩ Vương Huy Chi được triệu về kinh, đỗ thuyền ở bên Thanh Khê. Hoàn Y đi ngang qua, có người trong thuyền nhận ra, Huy Chi lập tức mời ông thổi sáo, Y khi ấy đã vinh hiển, không hề phật ý, bèn thổi 3 điệu, tương truyền chính là bản sáo (địch khúc) ‘Mai hoa tam lộng’, rồi lên xe mà đi. Hai người Vương, Hoàn không hề quen biết nhau, cũng không nói thêm với nhau 1 lời nào! Đây chính là điển cố "địch thượng tam lộng".

Trong "Thần kì bí phổ" của Chu Quyền đời nhà Minh, có chép bản đàn (cầm khúc) ‘Mai hoa tam lộng’. Ông ta cho rằng đây vốn là bản sáo do Hoàn Y sáng tác, người đời sau đã cải biên, rồi thay bằng đàn.

Can gián bằng âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Sau trận Phì Thuỷ, công danh của Tạ An ngày càng thịnh, chịu nhiều sự đố kỵ, quan hệ với Tấn Hiếu Vũ đế dần xấu đi. Trong một bữa tiệc cung đình, đế lệnh cho Hoàn Y diễn tấu. Ông nâng sáo, thổi xong khúc nhạc, khiến mọi người đều mê đắm. Y buông sáo, dâng lời rằng đơn tấu không bằng hợp tấu, xin lấy kẻ nô bộc của mình thổi sáo, còn bản thân vừa đàn Tranh vừa hát, đế cho.

Chủ tớ Y bèn biểu diễn bài ‘Oán thi’ (còn gọi là ‘Oán ca hành’) của Tào Thực, có câu: "为君既不易,为臣良独难,忠信事不显,乃有见疑患" (Hán Việt: Vi quân ký bất dịch, vi thần lương độc nan, trung tín sự bất hiển, nãi hữu kiến nghi hoạn. Tạm dịch: Làm vua đã không dễ, làm tôi cũng rất khó, việc trung tín không được vẻ vang, còn phải chịu sự nghi ngờ). Lời, điệu khẳng khái, mọi người đều chăm chú theo dõi. Xong, Tạ An lấy tay áo chậm nước mắt, bước ra khỏi chỗ ngồi, đến gần ông mà nói: "Sứ quân chuyến này quả bất phàm!" Đế rất lấy làm hổ thẹn.

Nhất vãng thâm tình[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàn Y giỏi hát Vãn ca [7], cùng Dương Đàm tấu nhạc và bài từ ‘Hành lộ nan’ của Viên Sơn Tùng được người thời ấy gọi là ‘tam tuyệt’. Mỗi khi nghe được âm nhạc hay, ông đều không kìm được mà kêu lên rằng: "Làm sao đây?" [8][9]

Tạ An thường đàm luận với Y, nhận xét: "Tử Dã thật sự có tình cảm sâu đậm đối với âm nhạc!" (Nguyên văn: 子野可谓一往有深情, Hán Việt: Tử Dã khả vị nhất vãng hữu thâm tình) [8] Đây chính là điển cố "nhất vãng thâm tình" hay "nhất vãng tình thâm".

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Cha là Hoàn Cảnh, làm quan đến Thị trung, Đan Dương doãn, Trung lĩnh quân, Hộ quân tướng quân.

Con trai là Túc Chi kế tự. Túc Chi mất, con là Lăng kế tự. Nhà Nam Tề thay ngôi nhà Lưu Tống, hầu quốc bị trừ.

Em trai là Bất Tài, tham gia đánh dẹp khởi nghĩa Tôn Ân, làm đến Quan quân tướng quân.

Địa danh liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

‘Đại Minh nhất thống chí’ chép mộ của Hoàn Y ở đường Thạch Mã, phường Thái Gia, ngoài cửa nam thành Nam Xương [10].

Hoàn Y đọc sách tập võ tại nơi ngày nay là chùa Y Sơn, thôn Y Sơn, trấn Sam Kiều, huyện Hành Dương, tỉnh Hồ Nam. Ngôi chùa này được sửa sang trong những năm Thái Nguyên (376 - 396) nhà Tấn, được Tống Huy Tông ban sắc ‘Cảnh Đức Thiện Tự’. Chùa Y Sơn ở dưới chân núi Y (còn gọi là Dã Vương lĩnh) là một trong những tự viện Phật giáo xuất hiện sớm nhất ở vùng Tương Nam.

Tác phẩm liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Đỗ Mục, ‘Nhuận châu’ có câu "Nguyệt minh canh tưởng Hoàn Y tại, nhất địch văn xuy xuất tái sầu".

Tô Đông Pha, ‘Chiêu Quân oán’ có câu: "Thùy tác Hoàn Y tam lộng, kinh phá lục song u mộng".

Hồng Hạo, ‘Giang mai dẫn - Ức giang mai’ có câu: "Mạn đàm lục ỷ, dẫn tam lộng, bất giác hồn phi".

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàn Y văn võ toàn tài, trung can nghĩa đảm, lại tinh thông âm luật. Quả là không gì không giỏi, chẳng ai theo kịp.

Ông thổi sáo bên bờ Thanh Khê, phong lưu khoát đạt khiến cho người ta không khỏi hâm mộ; lại đàn hát thay lời can gián, khiến cho muôn đời cảm phục.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thế thuyết tân ngữ - Phương chính
  2. ^ Theo Tấn thư - Hoàn Y truyện
  3. ^ Nay là Tuy Khê, An Huy
  4. ^ Nay là Tuyên Thành, An Huy
  5. ^ Nay là Vĩnh Tu, Giang Tây
  6. ^ Phục Thao, "Trường địch phú tự": 余同僚桓子野有故长笛名柯; Hán Việt: dư đồng liêu Hoàn Tử Dã hữu cố trường địch danh Kha Đình; Tạm dịch: Đồng liêu của tôi là Hoàn Tử Dã có cây địch dài và cũ tên là Kha Đình
  7. ^ Theo tự điển Thiều Chửu, Vãn ca là tiếng họa lại của kẻ cầm phất đi theo xe tang
  8. ^ a ă Thế thuyết tân ngữ - Nhâm đản
  9. ^ Theo Đường Trường Nhụ, "Ngụy Tấn Nam Bắc triều sử luận tùng": Con cái kêu "nại hà?" (奈何) hay "cùng" (窮) trong tang lễ của cha mẹ là phong tục ở Lạc Dương và vùng phụ cận
  10. ^ Nay là thôn Thạch Mã, Thanh Vân Phổ