Ixobrychus novaezelandiae

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Ixobrychus novaezelandiae
Ardettamaculata.jpg
Con đực trưởng thành và con đực còn con
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Aves
Bộ (ordo)Pelecaniformes
Họ (familia)Ardeidae
Chi (genus)Ixobrychus
Loài (species)I. novaezelandiae
Danh pháp hai phần
Ixobrychus novaezelandiae
(A. C. Purdie, 1871)
Danh pháp đồng nghĩa

Ardea pusilla Vieill, 1817
Ardetta punctata Gray, 1844
Ardetta pusilla Gould, 1848
Ardeola pusilla Bonap., 1855
Ardeola novaezelandiae A. C. Purdie, 1871
Ardetta maculata Buller, 1873
Ixobrychus minutus novaezelandiae Mathews & Iredale, 1913


Dupetor flavicollis P. L. Horn, 1980

Ixobrychus novaezelandiae là một loài chim đã tuyệt chủng thuộc họ Diệc (Ardeidae). Đây từng là loài đặc hữu New Zealand. Lần cuối người ta ghi nhận sự sinh tồn của loài này là vào thập niên 1890.[2]

Trong tiếng Anh, tên thường gọi cho loài này là "New Zealand bittern" (vạc New Zealand), "New Zealand little bittern" (vạc nhỏ New Zealand), "spotted heron" (cò đốm), và "kaoriki" (tên tiếng Māori).[3] Danh pháp khoa học của loài này có nhiều tên đồng nghĩa.[3]

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

I. novaezelandiae đôi khi bị coi là một phân loài Ixobrychus minutus, hay đồng loài với Ixobrychus dubius ở Úc và Guinea. Khi được Alexander Callender Purdie mô tả lần đầu[2] vào năm 1871, nó có tên Ardeola novaezelandiae.[4][5] Năm 1980, nhà cổ sinh vật học New Zealand Peter L. Horn tìm thấy bán hoá thạch của một con vạc trong hồ Poukawa và đặt cho nó cái tên Dupetor flavicollis. Năm 1991, Philip Millener xác định bán hoá thạch Horn tìm ra là của I. novaezelandiae.[6]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện chỉ có vài mẫu vật, và người ta thậm chí còn không chắc về giới tính của một số mẫu. I. novaezelandiae to hơn (dài 14,75 inch (38 cm)[5]) so với I. minutus (25–36 cm). Nét khác biệt giữa I. novaezelandiae với I. minutus còn nằm ở chỗ I. novaezelandiae có vạt lông vàng trên cánh lớn hơn, phần lông đen trên lưng sọc nâu nhạt, mặt bụng có sọc nâu đậm.[7]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ BirdLife International (2012). Ixobrychus novaezelandiae. Sách Đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2013.2. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2013. Chú thích có tham số trống không rõ: |last-author-amp= (trợ giúp)Quản lý CS1: ref=harv (liên kết)
  2. ^ a ă Tennyson, A.; Martinson, P. (2006). Extinct birds of New Zealand. Wellington: Te Papa Press. tr. 40–41. ISBN 0-909010-21-8. Đã bỏ qua tham số không rõ |lastauthoramp= (gợi ý |name-list-style=) (trợ giúp)
  3. ^ a ă Walter Lawry Buller (1888). A history of the birds of New Zealand. tr. 136–138.
  4. ^ Potts, T.H. (1871). “On the Birds of NEW Zealand (Part II)”. Transactions of the New Zealand Institute. 3: 59–109.
  5. ^ a ă Purdie, A.C. (1871). “On a (supposed) new species of Bittern from the Lake District”. Proceedings of the New Zealand Institute. 3: 99–100.
  6. ^ Worthy, T. H.; Holdaway, R. N. (2002). The lost world of the moa: prehistoric life of New Zealand. Indiana University Press. tr. 244. ISBN 978-0-253-34034-4. Đã bỏ qua tham số không rõ |lastauthoramp= (gợi ý |name-list-style=) (trợ giúp)
  7. ^ Marchant, S.; Higgins, P.J. biên tập (1991). Handbook of Australian, New Zealand and Antarctic Birds. Volume 1: Ratites to Ducks. Melbourne: Oxford University Press. tr. 1045–1046. ISBN 0-19-553244-9.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]