Khủng hoảng con tin Iran

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Khủng hoảng Con tin Iran
Một phần của Consolidation of the Iranian Revolution
Iran hostage crisis - Iraninan students comes up U.S. embassy in Tehran.jpg
Sinh viên Iran tụ tập đông đúc tại Đại sứ quán Mỹ ở Tehran (Ngày 4 tháng 11 năm 1979)
.
Thời gian Ngày 4 tháng 11, 1979 – Ngày 20 tháng 1, 1981
(444 ngày hay 1 năm, 2 tháng, 2 tuần và 2 ngày)
Địa điểm Tehran, Iran
Kết quả Các con tin được trả tự do bởi Algiers Accords
Tham chiến
 Iran

People's Mujahedin[1]

 Mỹ
Chỉ huy
Hoa Kỳ Jimmy Carter
Tổn thất
Một công dân Iran và 8 nhân viên Mỹ bị giết trong chiến dịch để giải cứu các con tin.
.

Khủng hoảng con tin Iran là một cuộc xung đột chính trị, ngoại giao giữa IranHoa Kỳ. 56 nhà ngoại giao và công dân Mỹ bị bắt làm con tin 444 ngày kể từ ngày 4 tháng 11 năm 1979 đến ngày 20 tháng 1 năm 1981 sau khi một nhóm sinh viên Iran thuộc Muslim Student Followers of the Imam's Line, hỗ trợ Cách mạng Hồi giáo, đã đánh chiếm Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Tehran.[3] Cuộc khủng hoảng này giữ kỷ lục là cuộc khủng hoảng con tin dài nhất trong lịch sử.[4]

Cuộc khủng hoảng đã được các phương tiện truyền thông phương Tây miêu tả như là một "sự vướng mắc" của "sự trả thù và hiểu lầm lẫn nhau".[5] Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter gọi các con tin là "nạn nhân của chủ nghĩa khủng bố và tình trạng vô chính phủ" và nói: "Hoa Kỳ sẽ không nhân nhượng với trò tống tiền."[6] Tại Iran, nó đã được nhìn nhận rộng rãi như là một đòn chống lại Hoa Kỳ và ảnh hưởng của nó ở Iran, bao gồm cả những nỗ lực nhằm làm suy yếu cuộc Cách mạng Iran và sự ủng hộ lâu dài đối với Shah Iran Mohammad Reza Pahlavi và chính quyền độc tài mới bị lật đổ trước đó.

Sau khi bị lật đổ vào năm 1979, Shah Mohammad Reza Pahlavi đã lưu trú tại Hoa Kỳ với lý do để điều trị ung thư. Iran yêu cầu ông phải trở lại nước này để chịu xét xử về các tội ác mà ông bị cáo buộc trong thời gian trị vì của ông. Cụ thể, Pahlavi bị buộc tội phạm tội chống lại công dân Iran với sự giúp đỡ của cảnh sát mật, SAVAK. Người Iran cho rằng quyết định của Hoa Kỳ cho phép ông ta tị nạn tại đó là đồng lõa trong những hành động tàn bạo trước đó. Còn Hoa Kỳ lại coi vụ bắt cóc là một sự vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, với các quyền bất khả xâm phạm dành cho các quan chức ngoại giao.[7][8][9][10]

Cuộc khủng hoảng đã lên đến đỉnh điểm sau khi các cuộc đàm phán ngoại giao thất bại trong việc giải phóng cho các con tin. Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter đã ra lệnh cho quân đội Hoa Kỳ cố gắng thực hiện một chiến dịch cứu hộ sử dụng tàu chiến - bao gồm cả USS NimitzUSS Coral Sea—đang tuần tra vùng biển gần Iran. Vào ngày 24 tháng 4 năm 1980, nỗ lực đánh chiếm, được gọi là Operation Eagle Claw, thất bại, dẫn đến cái chết của 8 lính Mỹ và 1 thường dân Iran, cũng như việc phá hủy của hai trực thăng. Sáu nhà ngoại giao Hoa Kỳ cuối cùng đã thoát ra khỏi nơi giam giữ do một nỗ lực kết hợp giữa Canada và Hoa Kỳ vào ngày 27 tháng 1 năm 1980.

Shah Pahlavi sau đó rời Hoa Kỳ vào tháng 12 năm 1979 và cuối cùng đã được tị nạn tại Ai Cập, nơi ông qua đời vì những biến chứng của bệnh ung thư vào ngày 27 tháng 7 năm 1980. Tháng 9 năm 1980, Iraq xâm chiếm Iran, bắt đầu Chiến tranh Iran-Iraq. Những sự kiện này đã khiến chính phủ Iran đồng ý đàm phán với Hoa Kỳ, với Algérie làm trung gian. Các con tin đã chính thức được thả ra và tới Hoa Kỳ ngay ngày hôm sau khi thỏa ước Algiers được ký, chỉ vài phút sau khi Tổng thống Mỹ mới, Ronald Reagan, tuyên bố nhậm chức.

Cuộc khủng hoảng được coi là một phần quan trọng trong lịch sử quan hệ ngoại giao Iran-Hoa Kỳ[11]. Các nhà phân tích chính trị trích dẫn nó như một nhân tố chính trong sự sụp đổ của tổng thống Jimmy Carter và sự thất bại của ông trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1980.[12] Tại Iran, cuộc khủng hoảng đã củng cố uy tín của Ayatollah Ruhollah Khomeini và sức mạnh chính trị của các lãnh đạo tôn giáo chống lại mọi bình thường hóa quan hệ với phương Tây[13]. Cuộc khủng hoảng cũng dẫn đến những trừng phạt kinh tế của Hoa Kỳ đối với Iran, làm yếu thêm mối quan hệ giữa hai nước[14].

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Iran cho rằng Đại sứ quán Mỹ tại Tehran là một “ổ tình báo” các nhân viên ở đây đều làm việc cho CIA.[15]

Bởi sau cuộc đảo chính lật đổ chính phủ của Thủ tướng Mohammed Mossadegh thành công (19-8-1953, cuộc khủng hoảng dầu hỏa mang tên Công ty dầu Anh-Iran được nối lại), Quốc vương Shah Mohammed Reza Pahlavi đã cho phép các công ty dầu hỏa của Anh, Mỹ và Hà Lan cùng khai thác với Iran. Quyết định của Quốc vương Shah Mohammed Reza Pahlavi đã tạo ra những phản đối của phe đối lập.[16]

Năm 1962, Quốc vương Shah Mohammed Reza Pahlavi từng ra lệnh bắt ông Ayatollah Ruhollah Khomeini vì lập trường chống chính quyền thân phương Tây ở Tehran. Năm 1964, ông Ayatollah Ruhollah Khomeini phải sống lưu vong tại Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq và Pháp.[16]

Nên sau khi trở lại nắm quyền, ông Ayatollah Ruhollah Khomeini không những tuyên bố lập nhà nước Cộng hòa Hồi giáo, mà còn từ chối ảnh hưởng của Mỹ tại Iran cũng như khu vực này.[16]

Ngày 22-10-1979 của Tổng thống Jimmy Carter - cho phép Quốc vương Iran bị phế truất, ông Shah Mohammed Reza Pahlavi tị nạn chính trị và chữa bệnh tại Mỹ, là giọt nước tràn ly, khiến Đại sứ quán Mỹ ở Tehran bị tấn công hôm 4-11-1979.[16]

Chính phủ mới ở Iran đã đưa ra một số điều kiện để phóng thích con tin, trong đó có yêu cầu Washington phải dẫn độ nhà lãnh đạo Shah Mohammed Reza Pahlavi về nước để xét xử và hoàn trả số tài sản của cựu vương cho Tehran.[16]

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Một tiêu đề trong một tờ báo của đảng Cộng hòa Hồi giáo vào ngày 5 tháng 11 năm 1979, đã đọc "Cuộc cách mạng chiếm đóng Đại sứ quán Hoa Kỳ".

Bắt cóc con tin[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 4/11/1979, các sinh viên tham gia cách mạng Iran tấn công Đại sứ quán Mỹ tại Tehran, bắt giữ hàng chục nhân viên ngoại giao Mỹ làm con tin. Hàng nghìn người phản đối tập trung bên ngoài khu nhà, đáp ứng lời kêu gọi của giáo chủ Khomeini tấn công các lợi ích của Mỹ và Israel.[17]

Trong số 90 người ở trong khu nhà, 6 người Mỹ trốn sang các sứ quán khác. Những người không mang quốc tịch Mỹ được phóng thích. Tuy nhiên, 66 người tiếp tục bị giam giữ.[18]

Các sinh viên dẫn những con tin bị bịt mắt tới trước ống kính máy ảnh để làm nhục "Quỷ ma vương" - hình ảnh của Washington trong mắt nhiều nhà lãnh đạo cách mạng Iran. Công chúng Mỹ choáng váng và mất tinh thần trước những hình ảnh này.[18]

Iran yêu cầu Washington trục xuất cựu vương Shah, người đang ở Mỹ để điều trị ung thư sau khi bị lật đổ.[18]

Tuy nhiên, để có thể ký thỏa thuận kể trên, Mỹ và Iran đã phải trải qua khá nhiều thăng trầm. Sau khi bắt 66 công dân Mỹ làm con tin hôm 4-11-1979 tại Đại sứ quán Mỹ ở Tehran, và để chứng tỏ thiện chí, ngày 17-11-1979, lãnh tụ Iran Ayatollah Ruhollah Khomeini đã ra lệnh phóng thích con tin nữ và người Mỹ gốc Phi, chỉ để lại 52 con tin.[18]

Động thái của Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thoát con tin trở thành ưu tiên của chính quyền Jimmy Carter. Tuy nhiên, Washington không thể có biện pháp nào ngoài trừng phạt kinh tế đối với Iran.[17]

Phía Mỹ sử dụng nhiều biện pháp đấu tranh ngoại giao nhằm yêu cầu Tehran trả tự do cho công dân nhưng bất thành. Tình thế bắt buộc khiến Tổng thống Mỹ quyết định đưa biệt kích Delta vào thủ đô Iran nhằm giải cứu con tin. Chiến dịch phức tạp kéo dài hai đêm, với sự tham gia của không quân, hải quân, lục quân và lính thủy đánh bộ Mỹ.[19]

Kế hoạch giải cứu con tin[sửa | sửa mã nguồn]

Một cuộc biểu tình chống Iran ở Washington, D.C., vào năm 1979. Phía trước của biển báo ghi "Trục xuất tất cả người Iran" và "Biến khỏi đất nước tôi", và mặt sau viết: "Hãy thả tất cả người Mỹ ngay lập tức".

Nhằm chuẩn bị cho chiến dịch phức tạp mang tính lịch sử, Mỹ cử Thiếu tướng Lục quân James B. Vaught làm tổng chỉ huy. Trong chiến đấu, đại tá James H. Kyle chỉ huy không quân, Trung tá Edward R. Seiffert chỉ huy các đội trực thăng và Đại tá Charlie Beckwith chỉ huy lực lượng đặc nhiệm Delta, những người trực tiếp tham gia chiến đấu. Ngoài ra, Cơ quan tình báo Trung ương Mỹ (CIA) cũng tham gia chiến dịch trong vai trò cung cấp thông tin.[19]

Ngày 1/4/1980, Mỹ đưa chuyên viên xuống sân bay bỏ hoang ở tỉnh South Khorasan để khảo sát và biến nó thành bãi đáp đầu tiên (Desert One) của phi đội tấn công. Người ta lắp đèn hồng ngoại trên các đường băng để giúp phi công hạ cánh trong đêm. Người ta không thể quan sát ánh sáng phát ra từ loại đèn này bằng mắt thường nhưng dễ dàng thấy nó nhờ các thiết bị chuyên dụng.[19]

Trong đêm đầu tiên, không quân Mỹ đưa xuống Desert One 6.000 lít nhiên liệu cùng lực lượng bảo vệ bằng những chiếc EC-130 của không quân. Mỹ cũng cử 3 chiếc EC-130E để chuyên chở các thành viên Delta và 3 chiếc MC-130E phục vụ hậu cần. Ngoài ra, 8 chiếc Sikorsky CH-53D Sea Stallion sẽ từ tàu sân bay USS Nimitz vào điểm hẹn đầu tiên trước khi tiếp nhiên liệu để đưa biệt kích tới điểm hẹn thứ hai (Desert Two).[19]

Đêm thứ hai, mật vụ CIA sẽ chờ sẵn ở Desert Two để đưa biệt kích Mỹ vào Tehran. Desert Two là những hầm khai thác muối mỏ cũ nằm cách Tehran 80 km. Các máy bay Mỹ sẽ được cất giấu tại đây trong khi biệt kích Mỹ tiến hành giải cứu con tin. Ngoài ra, một nhóm khác sẽ cắt điện toàn khu vực nhằm giảm thiểu khả năng phản ứng nhanh của quân đội Iran.[19]

Theo kế hoạch, Delta sẽ tấn công Đại sứ quán Mỹ, giải cứu con tin và đưa họ tới sân vận động Shahid Shiroudi, nơi trực thăng dễ dàng thực hiện việc sơ tán. Cùng thời điểm, một nhóm khác sẽ chiếm căn cứ không quân Manzariyeh ở khu vực lân cận, nơi đường băng đủ dài cho những chiếc C-141 Starlifters hạ cánh để sơ tán công dân tới vùng lãnh thổ thân thiện. Phi đội phản lực chiến đấu trên tàu sân bay USS Nimitz và USS Coral Sea sẵn sàng tiếp viện và hộ tống máy bay chở con tin và biệt kích rời khỏi Iran.[19]

Quá trình giải cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Các máy bay C-130 chở thiết bị và nhiên liệu tới điểm hẹn đầu tiên đúng theo kế hoạch sau khi cất cánh từ đảo Masirah, Iran. Tuy nhiên, đường băng bị cát lún phủ dày khiến máy bay Mỹ gặp trục trặc lúc hạ cánh. Tuy nhiên, chúng được sửa chữa và có thể hoạt động trở lại sau khi tiếp đất. Các máy bay hậu cần tiếp tục hạ cánh thành công. Khi đó, điểm hẹn 1 có 120 đặc nhiệm Delta, 15 người Iran hoặc người Mỹ gốc Ba Tư, chủ yếu đảm trách nhiệm vụ lái xe tải.[19]

Phi đội 8 chiếc CH-53D cất cánh tới điểm hẹn từ tàu sân bay USS Nimitz. Tuy nhiên, chiếc số 6 nứt cánh nên bị bỏ lại trong sa mạc nên chiếc số 8 phải dừng lại để chở phi hành đoàn của nó. Phi đội này tiếp tục gặp bão cát nên chiếc số 5 phải quay trở lại vì hỏng hóc. Chiếc số 2 tới được điểm hẹn nhưng bị hỏng hệ thống thủy lực.[19]

Khi sẵn sàng di chuyển tới điểm hẹn số 2, phía Mỹ chỉ còn 6 chiếc CH-53D có thể hoạt động. Đây là mức tối thiểu mà quân đội Mỹ phải duy trì nếu muốn tiếp tục nhiệm vụ. Chỉ huy lực lượng trực thăng không chấp thuận sử dụng chiếc CH-53D số 2 trong khi chỉ huy lực lượng Delta bỏ qua thông tin tình báo của Canada, quyết định giữ nguyên số lượng biệt kích. Họ tới điểm dừng chân số 2 với 6 chiếc CH-53D.[19]

Trong thời gian dừng chân ở điểm đỗ số 2, thêm một chiếc CH-53D va chạm với máy bay tiếp nhiên liệu EC-130 khiến cả hai chiếc nổ tung. Theo thống kê chính thức, 8 người thiệt mạng bao gồm 5 phi công của không quân Mỹ và 3 phi công điều khiển trực thăng. Chỉ một phi công lái trực thăng sống sót trong vụ tai nạn.[19]

Tuy nhiên, vụ nổ khổng lồ ở gần thủ đô Tehran khiến số lượng lớn binh sĩ dồn về khu vực này. Trong bối cảnh nguy cấp, tất cả biệt kích và đội hậu cần của Mỹ đã lên máy bay EC-130 để rời khỏi khu vực. Họ tháo chạy vội vàng tới mức không kịp phân loại tài liệu và hủy những chiếc máy bay trực thăng, vốn gần như còn nguyên vẹn.[19]

Chiến dịch thất bại[sửa | sửa mã nguồn]

Khi các máy bay Mỹ chuẩn bị rút đi, một chiếc trong số đó đâm vào chiếc C-130 chở nhiên liệu và quân lính, phá hủy chiếc máy bay và khiến 8 quân nhân Mỹ thiệt mạng. Trong cơn hoảng loạn sau đó, tất cả những máy bay còn lại bị bỏ rơi, chứ không bị phá hủy, rồi sau đó trở thành tài sản của Iran (một số vẫn còn phục vụ trong Hải quân Iran cho đến ngày nay).[15]

Chiến dịch Móng vuốt đại bàng sụp đổ hoàn toàn, khiến Mỹ mất mặt với cả thế giới và cũng đóng góp cho thất bại của Tổng thống Carter trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1980.[15]

Xảy ra chưa đầy 1 thập kỷ sau thất bại của Mỹ ở Việt Nam, chiến dịch Móng vuốt đại bàng bị coi là một bằng chứng nữa cho thấy nước Mỹ chỉ là “gã khổng lồ đáng thương” với gánh nặng là một quân đội thiếu năng lực.[15]

Trong số 5 chiếc trực thăng bị bỏ lại có một chiếc bị hư hại nhẹ trong khi 4 chiếc còn khá nguyên vẹn. Hiện tại, Hải quân Iran đang sử dụng chiếc CH-53D số 2 và số 8 mà biệt kích Mỹ bỏ lại. Nhà nước Hồi giáo cũng thu toàn bộ tài liệu mật của Mỹ về chiến dịch giải cứu con tin táo bạo.[19]

Nhà Trắng công bố chiến dịch thất bại đầu giờ chiều ngày hôm sau. Phía Iran phân tán các con tin ra khắp đất nước nhằm tránh một chiến dịch đột kích thứ hai. Quân đội nhà nước Cộng hòa Hồi giáo Iran tìm thấy 9 thi thể, bao gồm một thường dân Iran và 8 người Mỹ sau cuộc đột kích. Phía Iran cũng rêu rao về thất bại của Mỹ và phóng thích toàn bộ 52 con tin ngày 20/1/1981, vài phút sau khi ông Jimmy Carter kết thúc nhiệm kỳ. Tổng thống Carter không thể thực hiện cam kết giải cứu con tin Mỹ trong nhiệm kỳ của mình.[19]

Khủng hoảng kết thúc[sửa | sửa mã nguồn]

Phó Tổng Thống H. W. Bush và tùy tùng chào đón các con tin về nước

Tháng 7 năm 1980, cựu hoàng Iran qua đời vì ung thư ở Ai Cập.[20]

Với sự hỗ trợ của các trung gian người Algeria, Hoa Kỳ và Iran đã bắt đầu đạt được các cuộc đàm phán thành công. Vào ngày diễn ra lễ nhậm chức của Reagan, Mỹ đã giải phóng gần 8 tỷ USD tài sản bị đóng băng của Iran. Ngày Ronald Reagan nhậm chức 20/1/1980, các con tin được trả tự do sau 444 ngày.[17] Ngày hôm sau, cựu Tổng thống Jimmy Carter đã bay sang Tây Đức để chào đón những người Mỹ trên đường trở về nhà.[20]

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Mỹ quyết định bồi thường lên đến 4,4 triệu USD cho mỗi công dân nước này từng là nạn nhân trong cuộc khủng hoảng con tin Iran năm 1979.[21]

Danh sách con tin[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng cộng có 66 người bị bắt giữ: 63 người bị bắt ở Đại sứ quán và 3 người ở Văn phòng Bộ Ngoại giao. Trong đó, có 3 người là gián điệp của CIA. Mười ba con tin được thả vào ngày 19,20 tháng 11 năm 1979 và một người vào ngày 11 tháng 7 năm 1980.

Sau cuộc khủng hoảng con tin, các bức tường của Đại sứ quán Hoa Kỳ trước đây hầu hết được bao phủ trong các bức tranh tường chống Mỹ.

Các nhà ngoại giao đã trốn thoát cuộc bắt cóc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Robert Anders, 54 tuổi - viên chức lãnh sự
  • Mark J. Lijek, 29 tuổi - viên chức lãnh sự
  • Cora A. Lijek, 25 tuổi - trợ lý lãnh sự
  • Henry L. Schatz, 31 tuổi - trợ lý nông nghiệp
  • Joseph D. Stafford, 29 tuổi - viên chức lãnh sự
  • Kathleen F. Stafford, 28 tuổi - trợ lý lãnh sự

Con tin được thả ngày 19 tháng 11 năm 1979[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kathy Gross, 22 tuổi - thư kí[68]
  • Sgt Ladell Maples, USMC, 23 tuổi - Lính thủy đánh bộ bảo vệ đại sứ
  • Sgt William Quarles, USMC, 23 tuổi - Lính thủy đánh bộ bảo vệ đại sứSau cuộc khủng hoảng con tin, các bức tường của Đại sứ quán Hoa Kỳ trước đây hầu hết được bao phủ trong các bức tranh tường chống Mỹ.

Con tin được thả ngày 20 tháng 11 năm 1979[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sgt James Hughes, USAF, 30 tuổi - Quản lý hành chính của Không quân
  • Lillian Johnson, 32 tuổi - thư kí
  • Elizabeth Montagne, 42 tuổi - thư kí
  • Lloyd Rollins, 40 tuổi - viên chức hành chính
  • Capt Neal (Terry) Robinson, USAF - Sĩ quan tình báo quân đội Không quân
  • Terri Tedford, 24 tuổi - thư kí
  • MSgt Joseph Vincent, USAF, 42 tuổi - Quản lý hành chính của Không quân
  • Sgt David Walker, USMC, 25 tuổi - Lính thủy đánh bộ bảo vệ đại sứ
  • Joan Walsh, 33 tuổi - thư kí
  • Cpl Wesley Williams, USMC, 24 tuổi - Lính thủy đánh bộ bảo vệ đại sứ

Con tin được thả vào tháng 7 năm 1980[sửa | sửa mã nguồn]

  • Richard Queen, 28 tuổi - phó lãnh sự

Con tin được thả ra tháng 1 năm 1981[sửa | sửa mã nguồn]

Thomas L. Ahern, Jr.— nhân viên kiểm soát ma túy (sau này được xác định là đội trưởng CIA)[22][23]

  • Clair Cortland Barnes, 35 tuổi - chuyên gia truyền thông
  • William E. Belk, 44 tuổi - nhân viên truyền thông và ghi chép
  • Robert O. Blucker, 54 tuổi - cán bộ kinh tế
  • Donald J. Cooke, 25 tuổi - phó lãnh sự
  • William J. Daugherty, 33 tuổi - Thư ký thứ ba của đặc nhiệm Hoa Kỳ(sĩ quan CIA ) [24]
  • LCDR Robert Englemann, USN, 34 tuổi - Tùy viên hải quân
  • Sgt William Gallegos, USMC, 22 tuổi - Lính hải quân bảo vệ
  • Bruce W. German, 44 tuổi - nhân viên ngân sách
  • IS1 Duane L. Gillette, 24 tuổi - Hải quân thông tin và chuyên gia tình báo
  • Alan B. Golacinski, 30 tuổi - trưởng an ninh đại sứ quán, nhân viên an ninh khu vực
  • John E. Graves, 53 tuổi - sĩ quan công vụ
  • CW3 Joseph M. Hall, USA, 32 tuổi - tùy viên vũ trang
  • Sgt Kevin J. Hermening, USMC, 21 tuổi - Lính hải quân bảo vệ
  • SFC Donald R. Hohman, USA, 38 tuổi - quân y
  • COL Leland J. Holland, USA, 53 tuổi - tùy viên quân đội
  • Michael Howland, 34 tuổi - trợ lý viên an ninh khu vực
  • Charles A. Jones, Jr., 40 tuổi - chuyên gia truyền thông, teletype operator
  • Malcolm K. Kalp, 42 tuổi - cán bộ thương mại
  • Moorhead C. Kennedy, Jr., 50 tuổi - cán bộ thương mại và kinh tế[25]
  • William F. Keough, Jr., 50— tuổi - tổng giám đốc của Trường Hoa Kỳ ở Islamabad.[26]
  • Cpl Steven W. Kirtley, USMC,  tuổi - Lính hải quân bảo vệ
  • Kathryn L. Koob, 42 tuổi - nhân viên văn hoá đại sứ quán (một trong hai con tin nữ chưa được công nhận)
  • Frederick Lee Kupke, 34 tuổi - nhân viên truyền thông và chuyên gia về điện tử
  • L. Bruce Laingen, 58 tuổi - kế toán kinh doanh
  • Steven Lauterbach, 29 tuổi - viên chức hành chính
  • Gary E. Lee, 37 tuổi - viên chức hành chính
  • Sgt Paul Edward Lewis, USMC, 23 tuổi - Lính hải quân bảo vệ
  • John W. Limbert, Jr., 37 tuổi – sĩ quan chính trị
  • Sgt James M. Lopez, USMC, 22 tuổi - Lính hải quân bảo vệ
  • Sgt John D. McKeel, Jr., USMC, 27 tuổi - Lính hải quân bảo vệ
  • Michael J. Metrinko, 34 tuổi – sĩ quan chính trị
  • Jerry J. Miele, 42 tuổi – sĩ quan thông tin
  • SSgt Michael E. Moeller, USMC, 31 tuổi – Trưởng đơn vị thủy quân lục chiến
  • Bert C. Moore, 45 tuổi - tư vấn quản lý
  • Richard Morefield, 51 tuổi — tổng lãnh sự
  • Capt Paul M. Needham, Jr., USAF, 30 tuổi — sĩ quan hậu cần không quân
  • Robert C. Ode, 65 tuổi — nhân viên phục vụ nước ngoài về hưu đang làm nhiệm vụ tạm thời ở Tehran
  • Sgt Gregory A. Persinger, USMC, 23 tuổi - Lính hải quân bảo vệ
  • Jerry Plotkin, 45 tuổi — doanh nhân dân dụng đến Tehran
  • MSG Regis Ragan, USA, 38 tuổi — Lính quân đội, văn phòng quốc phòng trực thuộc
  • Lt Col David M. Roeder, USAF, 41 tuổi — Phó tùy viên Không quân
  • Barry M. Rosen, 36 tuổi – tùy viên báo chí
  • William B. Royer, Jr., 49 tuổi — trợ lý giám đốc của Hiệp hội Iran-Mỹ
  • Col Thomas E. Schaefer, USAF, 50 tuổi — tùy viên không lực
  • COL Charles W. Scott, USA, 48 tuổi - tùy viên vũ trang
  • CDR Donald A. Sharer, USN, 40 tuổi —tùy viên hải quân
  • Sgt Rodney V. (Rocky) Sickmann, USMC, 22 tuổi - Lính hải quân bảo vệ
  • SSG Joseph Subic, Jr., USA, 23 tuổi — quân đội cảnh sát, quân đội, văn phòng quốc phòng trực thuộc
  • Elizabeth Ann Swift, 40 tuổi — phó chủ tịch bộ phận chính trị (một trong hai con tin nữ chưa được công nhận)
  • Victor L. Tomseth, 39 tuổi — cố vấn cho các vấn đề chính trị
  • Phillip R. Ward, 40 tuổi — Nhân viên truyền thông CIA

Con tin dân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Một số ít con tin không phải là nhân viên ngoại giao. Tất cả đã được thả ra vào cuối năm 1981.

  • Jerry Plotkin- Doanh nhân Mỹ được thả vào tháng 1 năm 1981.[27]
  • Mohi Sobhani— Kỹ sư người Mỹ gốc Iran và là thành viên của Baha'i Faith được thả ngày 4 tháng 2 năm 1981.[28][29]
  • Zia Nassry— Người Mỹ gốc Afghanistan. được thả tháng 11 năm 1982.[30]
  • Cynthia Dwyer— Phóng viên Mỹ có hoạt động gián điệp và trục xuất vào ngày 10 tháng 2 năm 1981.[31]
  • Paul Chiapparone and Bill Gaylord—Nhân viên Hệ thống Số liệu điện tử, được cứu bởi hoạt động của Ross Perot vào năm 1979.
  • Bốn nhà truyền giáo người Anh, bao gồm tiến sĩ Canon John Coleman; vợ ông, Audrey Coleman; và Jean Waddell; được thả cuối năm 1981[32]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mark Edmond Clark (2016), “An Analysis of the Role of the Iranian Diaspora in the Financial Support System of the Mujahedin-e-Khalq”, trong David Gold, Terrornomics, Routledge, tr. 66–67, ISBN 1317045904, Following the seizure of the US embassy in Tehran, the MEK participated physically at the site by assisting in defending it from attack. The MEK also offered strong political support for the hostage-taking action. 
  2. ^ James Buchan (2013). Days of God: The Revolution in Iran and Its Consequences. Simon and Schuster. tr. 257. ISBN 1416597778. 
  3. ^ “The History Guy: Iran-U.S. Hostage Crisis (1979–1981)”. historyguy.com. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2016. 
  4. ^ Köhler, Michael; ‘Two Nations, a Treaty, and the World Court - An Analysis of United States-Iranian Relations under the Treaty of Amity before the International Court of Justice’; Wisconsin International Law Journal, 18 (Winter 2000), p. 287
  5. ^ Skow, John (26 tháng 1 năm 1981). “The Long Ordeal of the Hostages”. Time (tạp chí). Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2015. 
  6. ^ “Air Force Magazine” (PDF). Air Force Magazine. 5 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2016. 
  7. ^ “Doing Satan’s Work in Iran”. The New York Times. 6 tháng 11 năm 1979. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2016. 
  8. ^ Kinzer, Stephen. (2003). All The Shah’s Men: An American Coup and the Roots of Middle East Terror. Hoboken, New Jersey: John Wiley & Sons.
  9. ^ Nalle, David. (2003). “All the Shah’s Men: An American Coup and the Roots of Middle East Terror”; Middle East Policy, Vol. X (4), 148–155.
  10. ^ Pryce-Jones, David. (2003). “A Very Elegant Coup.” National Review, 55 (17), 48–50.
  11. ^ “History, Travel, Arts, Science, People, Places | Smithsonian”. Smithsonianmag.com. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2016. 
  12. ^ Reagan’s Lucky Day: Iranian Hostage Crisis Helped The Great Communicator To Victory Lưu trữ May 15, 2013, tại Wayback Machine., CBS News, January 21, 2001
  13. ^ Mackey, Sandra, The Iranians: Persia, Islam and the Soul of a Nation, New York: Dutton, c. 1996 (p. 298)
  14. ^ “A Review Of US Unilateral Sanctions Against Iran”. Mafhoum.com. 26 tháng 8 năm 2002. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2016. 
  15. ^ a ă â b “52 con tin bị giam 444 ngày và nỗi xấu hổ biệt kích Mỹ”. 
  16. ^ a ă â b c “Tại sao chiến dịch giải cứu 52 con tin Mỹ tại Iran cách đây 35 năm thất bại?”. 
  17. ^ a ă â “Cuộc khủng hoảng con tin Iran 1979 qua ảnh”. 
  18. ^ a ă â b “Tại sao chiến dịch giải cứu 52 con tin Mỹ tại Iran cách đây 35 năm thất bại?”. 
  19. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k “Khủng hoảng con tin Iran, thất bại ê chề của biệt kích Mỹ”. 
  20. ^ a ă “20/01/1981: Khủng hoảng con tin Iran chấm dứt”. 
  21. ^ “Mỹ bồi thường nạn nhân khủng hoảng con tin Iran 4,4 triệu USD”. 
  22. ^ “The Hostages in Danger”. Time. 17 tháng 12 năm 1979. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2007. 
  23. ^ Michael B. Farrell (27 tháng 6 năm 2006). “444 days in captivity as the world watched”. The Christian Science Monitor. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2007. 
  24. ^ “A First Tour Like No Other — Central Intelligence Agency”. Cia.gov. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2016. 
  25. ^ Totter, Bill, “Mainer recalls time as hostage in Iran 30 years ago”, Bangor Daily News, Bangor, Maine, Nov. 05, 2009.
  26. ^ Tehran American School Transcripts.” Tehran American School Association. Retrieved on September 22, 2016.
  27. ^ https://www.nytimes.com/1996/06/08/us/jerry-plotkin-62-who-spent-444-days-as-a-hostage-in-iran.html
  28. ^ ‘Mohi Sobhani, 70; Held Hostage at U.S. Embassy in Iran in 1980’, Los Angeles Times
  29. ^ “Mohi Sobhani (1935 - 2005) - Find A Grave Memorial”. Findagrave.com. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2016. 
  30. ^ Nassry Was Political Prisoner In Iran Red Cross Traces Path To Lost Relatives, The Morning Call, March 2, 1993
  31. ^ Cynthia Dwyer home, Bangor Daily News, Feb 12, 1981
  32. ^ 29 Aug 2003 (29 tháng 8 năm 2003). “Canon John Coleman”. Telegraph. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2013. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bakhash, Shaul (1984). The Reign of the Ayatollahs: Iran and the Islamic Revolution. Basic Books.
  • Sick, Gary (1991). October Surprise: America's Hostages in Iran and the Election of Ronald Reagan. New York: Random House.
  • Harris, Les (1997). 444 Days to Freedom: What Really Happened in Iran. DVD UPC 033909253390
  • Bowden, Mark (2006). Guests of the Ayatollah: The Iran Hostage Crisis: The First Battle in America's War with Militant Islam. New York: Grove Press. ISBN 0-87113-925-1
  • Ebtekar, Massoumeh; Reed, Fred (2000). Takeover in Tehran: The Inside Story of the 1979 U.S. Embassy Capture. Burnaby, BC: Talonbooks. ISBN 0-88922-443-9
  • Moin, Baqer (2000). Khomeini: Life of the Ayatollah. Thomas Dunne Books.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết mở rộng[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu chưa phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Anh Quốc[sửa | sửa mã nguồn]