Khuang Aphaiwong

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Khuang Aphaiwong

Luang Kowit-aphaiwong
ควง อภัยวงศ์
Khuang Aphaiwong.jpg
Thủ tướng Thái Lan thứ 4
Nhiệm kỳ
1 tháng 8 năm 1944 – 31 tháng 8 năm 1945
MonarchAnanda Mahidol
Tiền nhiệmPlaek Phibunsongkhram
Kế nhiệmTawee Boonyaket
Nhiệm kỳ
31 tháng 1 năm 1946 – 24 tháng 3 năm 1946
Tiền nhiệmSeni Pramoj
Kế nhiệmPridi Banomyong
Nhiệm kỳ
10 tháng 11 năm 1947 – 8 tháng 4 năm 1948
MonarchBhumibol Adulyadej
Tiền nhiệmThawan Thamrongnawasawat
Kế nhiệmPlaek Phibunsongkhram
Thông tin cá nhân
Sinh(1902-05-17)17 tháng 5 năm 1902
Phra Tabong, Siam, (nay là Battambang, Campuchia)
Mất15 tháng 3 năm 1968(1968-03-15) (65 tuổi)
Quốc tịchThái Lan
Đảng chính trịĐảng Dân chủ
Vợ, chồngLekha Kunadilok
Tôn giáoPhật giáo Theravada

Khuang Aphaiwong (17 tháng 5 năm 1902 - 15 tháng 3 năm 1968; tiếng Thái: ควง อภัยวงศ์, cũng viết Kuang, Abhaiwong, hoặc Abhaiwongse) đã ba lần so với Thủ tướng Thái Lan: từ tháng 8 năm 1944 đến năm 1945, từ tháng Giêng đến tháng 5 năm 1946, và từ tháng năm 1947 đến tháng 4 năm 1948.

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khuang sinh tại Battambang (nay ở Campuchia), một con trai của thống đốc Xiêm Chao Phraya Abhayabhubet. Các Aphaiwongs là của hoàng tuổi dòng Khmer. Khuang học ở trường Debsirin và Assumption đại học, Bangkok, sau đó học tập kỹ thuật tại École Centrale de Lyon ở Pháp. Ngày trở về Thái Lan, ông đã làm việc trong các bộ phận điện báo, cuối cùng trở thành giám đốc của Sở. Điều này mang lại cho ông danh hiệu phong kiến ​​Luang Kowit-aphaiwong. Ông kết hôn với Lekha Kunadilok (Goone-Tilleke), con gái của Tích Lan sinh ra luật sư William Alfred Goone-Tilleke, người sáng lập của pháp luật firm Tilleke & Gibbins.[1]

Người khởi xướng sự thay đổi chế độ và bộ trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Khuang là một thành viên của phe dân sự của Khana Ratsadon ("Đảng nhân dân"), nhóm người đã thúc đẩy cuộc cách mạng của Xiêm năm 1932, dẫn đến một sự thay đổi chế độ từ tuyệt đối chế độ quân chủ lập hiến. Sau đó, ông từng là bộ trưởng mà không cần danh mục đầu tư trong tủ của Phraya Phahon PhonphayuhasenaPlaek Phibunsongkhram (Phibun). Trong Thế chiến II, ông đã đưa một lớn và gia nhập đội theking của. Như vậy ông là ở phần đầu của sứ mệnh Battambangwhich trong tháng 7 năm 1941 nắm quyền kiểm soát lãnh thổ Campuchia chiếm đóng trong cuộc chiến tranh Pháp-Thái Lan, được đổi tên thành tỉnh Phra Tabong. Cha của ông đã được thống đốc của một phần của khu vực này trước khi nó được nhượng lại cho Pháp năm 1907. Sau đó ông trở thành bộ trưởng thương mại và truyền thông

Nhiệm kỳ đầu tiên làm Thủ tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 01 Tháng Tám năm 1944, Quốc hội bầu ông Thủ tướng Chính phủ, sau khi kế hoạch Phibun để di chuyển thủ đô tới Phetchabun và để tạo ra các công viên Phutthamonthon không nhận được đủ chính. Ông là một ứng cử viên thỏa hiệp, đứng giữa những người ủng hộ Phibun và di chuyển miễn phí Thai đối lập.[2] Bề ngoài ông đã hợp tác với Nhật Bản, người đã dựa trên sự thật chiếm đóng Thái Lan trong chiến tranh. Đồng thời, ông che chắn cho Thái miễn phí người tích cực phối hợp với các đồng minh tiến. Sau sự rút lui của Nhật Bản, ông đã từ chức ngày 31 tháng 8 năm 1945, để dọn đường cho một chính quyền mới của lực lượng Thái miễn phí.

Thứ hai hạn như Thủ tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1946 ông là một trong những sáng lập viên của Đảng Dân chủ bảo thủ, và trở thành lãnh đạo đầu tiên của nó. Các cuộc bầu cử quốc gia thứ tư trên 06 Tháng Một năm 1946 đã giành chiến thắng của Đảng Dân chủ, mà lại cho ông một nhiệm kỳ thứ hai làm thủ tướng bắt đầu vào ngày 31 tháng Giêng. Chỉ 45 ngày sau đó, vào ngày 24 tháng Ba, chính phủ của ông bị mất một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm tại Quốc hội và ông đã từ chức.

Thứ ba hạn như Thủ tướng Chính phủ và cuộc sống cuối[sửa | sửa mã nguồn]

Ông trở thành thủ tướng lần thứ ba vào ngày 10 tháng 11 năm 1947 sau acoup d'état do soái Phin Chunhawan. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo cuộc đảo chính không hài lòng với hiệu suất của chính phủ Khuang và buộc ông phải từ chức vào ngày 08 tháng 4 năm 1948. Điều này cũng đảm bảo Phibun để trở thành Thủ tướng một lần nữa. Khuang tiếp tục trong chính trị như các nhà lãnh đạo đối lập và lãnh đạo đảng Dân chủ cho đến khi tất cả các đảng phái chính trị đã bị cấm vào năm 1958. Vợ ông, bà Khunying Lekha Aphaiwong, được bổ nhiệm Thượng nghị sĩ vào năm 1949, trở thành một trong những nữ chính trị gia đầu tiên của Thái Lan.

Khuang qua đời vào ngày 15 tháng 3 năm 1968, tại 66 tuổi.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Songsri Foran (1981), Thai-British-American relations during World War II and the immediate postwar period, 1940-1946, Thai Khadi Research Institute, Thammasat University, tr. 83 
  2. ^ Thak Chaloemtiarana (2007). Thailand: The Politics of Despotic Paternalism. tr. 16. 

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • Goscha, Christopher E., Thailand and the Southeast Asian Networks of The Vietnamese Revolution, 1885-1954, Routledge, 1999, ISBN 0700706224
Chức vụ
Tiền nhiệm:
Plaek Phibunsongkhram
Thủ tướng Thái Lan
1944–1945
Kế nhiệm:
Tawee Boonyaket
Tiền nhiệm:
Seni Pramoj
Thủ tướng Thái Lan
1946
Kế nhiệm:
Pridi Phanomyong
Tiền nhiệm:
Thawan Thamrongnawasawat
Thủ tướng Thái Lan
1947–1948
Kế nhiệm:
Plaek Phibunsongkhram