Kongur Tagh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Kongur Tagh
Kongkhoerh
Kongur south.jpg
Mặt phía nam của Kongur Tagh
Độ cao7.649 m (25.095 ft)[1]
hạng 37
Phần lồi3.585 m (11.762 ft)[1]
hạng 49
Danh sáchUltra
Vị trí
Kongur Tagh trên bản đồ Trung Quốc
Kongur Tagh
Kongur Tagh
Trung Quốc
Vị tríHuyện Akto, Tân Cương , Trung Quốc
Dãy núiKongur Shan
Tọa độ38°35′39″B 75°18′48″Đ / 38,59417°B 75,31333°Đ / 38.59417; 75.31333Tọa độ: 38°35′39″B 75°18′48″Đ / 38,59417°B 75,31333°Đ / 38.59417; 75.31333[1]
Leo núi
Chinh phục lần đầu1981 bởi một đội Vương quốc Anh
Hành trình dễ nhấtLeo núi đá/tuyết/băng


Kongur Tagh or Kongkoerh (Uyghur: قوڭۇر تاغ‎, Коңур Тағ; tiếng Mông Cổ: Хонгор Таг, Hongor Tag; tiếng Trung: 公格尔峰; bính âm: Gōnggé'ěr Fēng) (còn gọi là Kongur) với độ cao 7.649 m là ngọn núi cao nhất Tân CươngTrung Quốc.

Kongur Tagh (trái) and Kongur Tiube (hơi về bên phải) nhìn từ Karakoram Highway trên đường từ Kashgar tới hồ Karakul
Kongur Tagh (phải) và Kongur Tiube (giữa) nhìn từ hồ Karakul.
Dãy Kongur Tagh 2005. Các đỉnh nhìn từ Karakoram highway về phía tây nam là Kuk Sel (6,715 metres) và Kezi Sel (6,525 metres), khoảng 5 km và 7 km phía nam của đỉnh chính.
Kongur Tagh 2011

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Kongur Tagh nằm trong phạm vi dãy núi gọi là Kongur Shan (Trung Quốc: 公 格尔 山, Hán Ngữ: Gōnggé'ěr Shān.) Kongur Tagh nằm ngay phía bắc Muztagh Ata và nhìn thấy từ hồ Karakul. Một số nguồn sử dụng "Kongur Shan" nhầm lẫn để chỉ đến đỉnh cao của chính nó. Dãy núi Kongur Shan, bao gồm Muztagh Ata, được chia cắt bởi thung lũng sông Yarkand lớn từ dãy núi Kunlun và do đó đôi khi được bao gồm trong "Pamirs Đông" [2] Kongur Tagh là đỉnh cao nhất trong dãy núi Kunlun và cũng cao hơn bất kỳ đỉnh cao nào trong Pamirs. Tuy nhiên, việc xây dựng đường cao tốc Karakoram từ Pakistan tới Trung Quốc, chạy qua hồ Tashkurgan gần đó và hồ Karakul đã khiến cho nó dễ tiếp cận hơn.

Hành chính, dãy Kongur nằm trong huyện Akto.

Lịch sử leo núi[sửa | sửa mã nguồn]

Những nỗ lực đầu tiên để leo lên Kongur Tagh được thực hiện vào năm 1956 nhưng cuộc leo núi đã bị hủy bỏ khi họ nhận ra rằng nó đã vượt quá khả năng của họ.

Nỗ lực thành công đầu tiên lên Kongur Tagh được hoàn thành vào năm 1981 bởi một cuộc thám hiểm của Anh gồm có Chris Bonington, Al Rouse, Peter Boardman và Joe Tasker[3].

Độ cao[sửa | sửa mã nguồn]

Điều này được lấy từ Hướng dẫn Leo núi ở Trung Quốc. Một số nhà chức trách Trung Quốc cho là nó cao 7.719 m, nhưng bằng chứng về độ cao này được đưa ra ở đây.

Kongur Tiube[sửa | sửa mã nguồn]

Đỉnh Kongur Tagh II

Kongur Tagh có một đỉnh phụ đáng kể gọi là Kongur Tiube (Trung Quốc: 公 格尔 九 别 峰 có nghĩa bằng tiếng địa phương "núi có nắp trắng",[4] còn được gọi là Kongur Tiubie / JiubieKungur Tjube Tagh), 38°36′57″B 75°11′44″Đ / 38,61583°B 75,19556°Đ / 38.61583; 75.19556 (Kungur Tjube Tagh); độ cao là 7,530 m (24,705 ft).hạng 37[5] Nó có tính độc lập vừa phải, với độ nổi bật về mặt địa hình là 840 m (2.756 ft). Lần đầu tiên nó được leo lên là năm 1956.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â "China II: Sinkiang - Xinjiang". Peaklist.org. Truy cập 2014-05-26.
  2. ^ N. O. Arnaud; M. Brunel; J. M. Cantagrel; P. Tapponnier (1993). “High cooling and denudation rates at Kongur Shan, Eastern Pamir (Xinjiang, China)”. Tectonics Vol. 12 No. 3. American Geophysical Union Publications. tr. 1335–1346. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2015. 
  3. ^ Ward (1983), pp. 146-148.
  4. ^ Kongur Jiubie Peak (in Chinese)
  5. ^ Kongur Tagh-Muztagh Ata Topographic Map, 1:100,000, by the Lanzhou Institute of Glaciology and Geocryology, Chinese Academy of Sciences, ISBN 7-80545-148-6.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ward, Michael. (1983). "The Kongur Massif in Southern Sinkiang." The Geographical Journal, Vol. 149, No. 2 (Jul., 1983), pp. 137–152.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]