Kumamon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Kumamon (くまモン) là một linh vật tạo bởi chính quyền Kumamoto, Nhật Bản. Nó được tạo năm 2010 cho một chiến dịch thu hút khách du lịch sau khi tàu điện ngầm Kyushu Shinkansen mở cửa.[1] Kumamon sau đó trở nên nổi tiếng toàn quốc, và cuối năm 2011, bình chọn đứng đầu trong một cuộc khảo sát toàn quốc về các linh vật, nói chung là yuru-chara, tất cả vượt qua 280,000 bình chọn.[2][3] Kể từ khi sự thành công của chú trong cuộc thi, Kumamoto kiếm được 11,8 tỉ yên (xấp xỉ 120 triệu đô la Mỹ, 79 triệu pao, 93 triệu euro) trong thu nhập kinh tế trong nửa năm 2012, chỉ sau khi kiếm được 2,5 tỉ yên (xấp xỉ 26 triệu đô la Mỹ, 27 triệu pao, 20 triệu euro) suốt năm 2011.[4][5]

Ngân hàng Nhật Bản ước lượng rằng 2 năm trước năm 2014, Kumamon thu về 123,2 tỉ yên trong kinh tế.[6][7] Kumamon được nhiều người ưa thích, kể cả các idol như Suga (BTS). Sự thành công của Kumamon cũng giải thích sự thật rằng quận Kumamoto chọn các sản phẩm sử dụng Kumamon nhưng không tính tiền bản quyền cho việc sử dụng nhân vật.[8]

Bên ngoài có nền Kumamon trên tàu lửa của Đường sắt Hisatsu Orange, tháng 11 năm 2012

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Top Ten Japanese Character Mascots”. Finding Fukuoka. ngày 13 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2013.
  2. ^ “Japan's #1 Mascots: Kumamon, Bary-san, and Nishiko-kun”. Japan Probe. ngày 28 tháng 11 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2013.
  3. ^ “Kumamoto Mascot "Kuma-mon" Won First Prize | Tenkai-japan:Cool Japan Guide-Travel, Shopping, Fashion, J-pop”. Tenkai-japan. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2013.
  4. ^ Brasor, Philip (ngày 13 tháng 1 năm 2013). “Mascots bear cash for local authorities”. The Japan Times. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2013.
  5. ^ Wakabayashi, Daisuke (ngày 25 tháng 12 năm 2012). “Isn't That Cute? In Japan, Cuddly Characters Compete - WSJ.com”. Online.wsj.com. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2013.
  6. ^ Brasor, Philip (ngày 15 tháng 4 năm 2014). “Can a solo career help a mascot stand out?”. The Japan Times. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2014.
  7. ^ “Mute bear caricature gives press conference - Latest - New Straits Times”. Nst.com.my. ngày 14 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2014.
  8. ^ Fuji, Moeko (Jun 28, 2013).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]