Lãnh thổ tách rời

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Lãnh thổ tách rời (từ tiếng Pháp: exclavé, ghép tạo ra từ ex: rời, và clavis: chìa khóa) là phần lãnh thổ nằm tách rời khỏi vùng đất chính của một chủ thể chính trị văn hóa hay thiên nhiên nhất định. Để đến được lãnh thổ tách rời phải vượt qua đường biên và đi qua vùng lãnh thổ của chủ thể khác hoặc lãnh thổ quốc tế [1][2]. Phần lớn các trường hợp đề cập đến là các ranh giới chính trị hoặc hành chính. Vùng đất chính thường gọi là Đất Mẹ.

Theo nghĩa rộng exclavé cũng được dùng để chỉ các vùng tách rời theo các đặc trưng địa lý khác. Các đảo ngôn ngữ là vùng tách rời ở đó cư dân có tiếng nói và văn hóa khác xung quanh. Trong phân bố các loài động thực vật có các vùng đảo sinh vật, hoặc trong khí hậu thì tồn tại các ốc đảo.

Lãnh thổ tách rời C bị bao
Lãnh thổ tách rời C không bị bao

Lãnh thổ tách rời[sửa | sửa mã nguồn]

Ví dụ về các Lãnh thổ tách rời của quốc gia như bang Alaska của Hoa Kỳ, vùng Kaliningrad của Liên bang Nga, Cộng hòa tự trị Nakhichevan của Azerbaijan, vùng Llívia của Tây Ban Nha trên dãy Pyrenees, vùng CeutaMelilla của Tây Ban NhaMaroc. Cho đến sau Chiến tranh thế giới thứ hai vùng Hohenzollern miền nam nước Đức là một trong hơn 60 exclavé của nhà nước Phổ.[3].

Nhiều vùng tách rời có thể tiếp cận qua vùng biển quốc tế, ví dụ bang Alaska của Hoa Kỳ, vùng Kaliningrad của Liên bang Nga. Tuy nhiên vùng đất thuần túy tách rời qua vùng biển quốc tế, như Quần đảo Hawaii của Hoa Kỳ, Quần đảo Trường Sa của Việt Nam,... thì sự tách rời đó thường không nhấn mạnh.

Trước khi nước Đức thống nhất năm 1991 vùng Tây Berlin được CHLB Đức coi là lãnh thổ tách rời, mặc dù Liên Xô và khối XHCN phản đối. Ngày nay người ta xếp hiện tượng này là không thật sự tách rời.

Lãnh thổ bao bọc[sửa | sửa mã nguồn]

Cùng với khái niệm vùng tách rời, thì thuật ngữ vùng (bị) bao bọc (enclavé) thể hiện một vùng lãnh thổ bị bao quanh bởi chủ thể khác. Các quốc gia như Lesotho, San Marino, Vatican,... là quốc gia bị bao bọc như vậy [4].

Bản đồ Baarle các vùng đất tách rời của Bỉ ở Hà Lan, và đến lượt nó lại có bao quanh các khu vực Hà Lan trong đó

Các vùng da báo[sửa | sửa mã nguồn]

Do những nguyên nhân lịch sử đặc biệt, sư hình thành biên giới các vùng lãnh thổ để lại hiện tượng da báo ở vùng giáp ranh, tức là nhiều lãnh thổ tách rời của chủ thể này nằm trong lãnh thổ của chủ thể kia. Đặc biệt hơn, có thể xảy ra bao bọc nhiều cấp, tức là lãnh thổ C bị bao bọc trong A, và đến lượt mình một phần lãnh thổ A bị bao bọc trong C.

Hai vùng da báo quốc gia nổi tiếng, là:

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Robinson, G. W. S. (tháng 9 năm 1959). “Exclaves”. Annals of the Association of American Geographers 49 (3, [Part 1]): 283–295. JSTOR 2561461. doi:10.1111/j.1467-8306.1959.tb01614.x. 
  2. ^ Vinokurov (2007), p. 29, also refers to semi-exclaves as a type of "mere exclave with sea connection to the mainland."
  3. ^ Christoph von Lindeiner-Wildau: Burg Hohenzollern als preußisch-deutsche Garnison und befestigter Platz. In: Zeitschrift für Hohenzollerische Geschichte 3(90), 1967, p.81–82 (Digitalisat der UB Freiburg).
  4. ^ Manfred Schmidt. Exklaven und Enklaven. Und andere territoriale Anomalien. Grin Verlag, München 2008, ISBN 978-3-640-17973-2.
  5. ^ The Baarle Enclaves outlined with Maps
  6. ^ “The Curious Case of Baarle-Nassau and Baarle-Hertog”. Amusingplanet.com. 6 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2019. 
  7. ^ Houtum, H. Van; Berg, Eiki (18 tháng 10 năm 2018). Routing Borders Between Territories, Discourses and Practices (bằng tiếng Anh) (ấn bản 2). Routledge. tr. 310. ISBN 9781351759113. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2019. Such holdings detached from the parent estate were then known as chhit mohol in Bengali; the term came to mean 'enclave' after 1947. 
  8. ^ Whyte, Brendan R. (2002). Waiting for the Esquimo: An Historical and Documentary Study of the Cooch Behar Enclaves of India and Bangladesh (bằng tiếng Anh) (ấn bản 1). Melbourne, Australia: School of Anthropology, Geography and Environmental Studies, Đại học Melbourne. tr. 502. ISBN 9780734022080. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2019. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]