Liên hoan phim Cannes 2015

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Liên hoan phim Cannes 2015

Picto infobox cinema.png
Áp phích chính thức của Liên hoan phim Cannes lần thứ 68, với tấm ảnh của Ingrid Bergman do David Seymour thực hiện.
Phim chiếu mở mànStanding Tall
Phim chiếu kết thúcIce and the Sky
Địa điểmCannes, Pháp
Sáng lập1946
Giải thưởngCành cọ vàng (Dheepan)
Dẫn chương trìnhLambert Wilson
Số phim tham gia19 (tranh giải)
19 (giải Un Certain Regard)
9 (Phim ngắn)
Ngày tổ chức13 – 24 tháng 5 năm 2015
Trang web chính thức

Liên hoan phim Cannes thường niên lần thứ 68 tổ chức từ ngày 13 đến 24 tháng 5 năm 2015.[1] JoelEthan Coen được thông báo là trưởng ban giám khảo của phần tranh giải chính,[2] đánh dấu mùa liên hoan phim đầu tiên có hai người chủ khảo.[3] Diễn viên người Pháp Lambert Wilson là chủ trì của buổi lễ khai mạc và kết thúc.[4] Giải Cành cọ vàng được trao cho bộ phim Pháp Dheepan của đạo diễn Jacques Audiard.[5][6] Audiard chia sẻ "Nhận giải thưởng từ anh em nhà Coen là một điều rất đặc biệt. Tôi thực sự cảm động".[7]

Áp phích của liên hoan phim có sự xuất hiện của ngôi sao Hollywood và nữ diễn viên người Thụy Điển Ingrid Bergman do nhiếp ảnh gia David Seymour thực hiện. Áp phích tri ân đến những cống hiến về điện ảnh của Bergman và khi bà còn là trưởng ban giám khảo tại Liên hoan phim Cannes 1973. Nằm trong phần tưởng nhớ đến Bergman, bộ phim tài liệu Thụy Điển Ingrid Bergman: In Her Own Words trình chiếu trong khu vực Cannes Classics.[8]

Standing Tall của đạo diễn Emmanuelle Bercot là phim mở màn của liên hoan. Đây là phim mở màn thứ hai trong lịch sử liên hoan phim do một nữ đạo diễn thực hiện, cùng với A Man in Love của Diane Kurys tại Liên hoan phim Cannes 1987.[9] Ice and the Sky của đạo diễn Luc Jacquet hạ màn liên hoan.[10] Cả hai phim mở màn và hạ màn đều đưa ra các thông điệp mạnh mẽ và quan trọng—Standing Tall mang chủ đề đáp trả đến vụ tấn công Charlie HebdoIce and the Sky với những lo âu về tương lai của hành tinh.[10][11][12]

Đạo diễn Pháp Agnès Varda được trao tặng giải thưởng Cành cọ vàng danh dự tại buổi lễ kết thúc liên hoan phim. Cô cũng là nhà làm phim nữ đầu tiên nhận giải thưởng này.[13]

Giám khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ethan và Joel Coen, chủ tịch ban giám khảo hạng mục Tranh cử chính bên cạnh chủ tịch của liên hoan phim là Pierre Lescure.
Isabella Rossellini, chủ tịch ban giám khảo hạng mục Un Certain Regard.
Sabine Azéma, chủ tịch ban giám khảo hạng mục Camera d'Or.
Abderrahmane Sissako, chủ tịch ban giám khảo hạng mục Cinéfondation và phim ngắn.

Tranh cử chính[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đầy đủ ban giám khảo cho hạng mục tranh cử chính được công bố vào ngày 21 tháng 4 năm 2015:[14][15]

Un Certain Regard[sửa | sửa mã nguồn]

Camera d'Or[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sabine Azéma, nữ diễn viên người Pháp, chủ tịch ban giám khảo.[18][19]
  • Delphine Gleize, đạo diễn điện ảnh người Pháp
  • Melvil Poupaud, nam diễn viên người Pháp
  • Claude Garnier, nhà quay phim người Pháp.
  • Didier Huck, giám đốc điều hành Technicolor người Pháp.
  • Yann Gonzalez, đạo diễn điện ảnh người Pháp.
  • Bernard Payen, nhà phê bình điện ảnh và giám tuyển người Pháp

Cinéfondation và phim ngắn[sửa | sửa mã nguồn]

Giám khảo độc lập[sửa | sửa mã nguồn]

Nespresso Grand Prize (Tuần của phê bình gia quốc tế)

  • Ronit Elkabetz, nữ diễn viên và đạo diễn điện ảnh người Israel, chủ tịch ban giám khảo.[22][23]
  • Katell Quillévéré, đạo diễn điện ảnh người Pháp
  • Peter Suschitzky, nhà quay phim người Anh.
  • Andréa Picard, giám tuyển và nhà phê bình điện ảnh Canada
  • Boyd van Hoeij, nhà phê bình điện ảnh người Hà Lan gốc Pháp.

L'Œil d'or

  • Rithy Panh, đạo diễn phim tài liệu xứ Campuchia thuộc Pháp, chủ tịch ban giám khảo[24][25]
  • Nicolas Philibert, đạo diễn phim tài liệu người Pháp.
  • Irène Jacob, nữ diễn viên người Thụy Sĩ thuộc Pháp.
  • Diana El Jeiroudi, nhà sản xuất phim tài liệu người Syria
  • Scott Foundas, nhà phê bình điện ảnh người Mỹ.

Queer Palm

  • Desiree Akhavan, nữ diễn viên và đạo diễn điện ảnh người Mỹ-Iran, chủ tịch ban giám khảo.[26]
  • Ava Cahen, nhà báo người Pháp
  • Elli Mastorou, nhà báo điện ảnh người Bỉ
  • Nadia Turincev, nhà sản xuất điện ảnh người Pháp.
  • Laëtitia Eïdo, nữ diễn viên người Pháp.

Danh sách tranh cử[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh cử chính[sửa | sửa mã nguồn]

Các bộ phim tranh cử Cành cọ vàng được công bố trong một buổi họp báo diễn ra vào ngày 16 tháng 4 năm 2015.[27] Hai bộ phim được thêm vào danh sách tranh cử chính vào ngày 23 tháng 4 năm 2015 gồm có Valley of Love do Guillaume Nicloux đạo diễn và Chronic do Michel Franco đạo diễn.[28] Tác phẩm đoạt Cành cọ vàng được in nổi.

Tựa tiếng Anh Tựa gốc Đạo diễn Quốc gia sản xuất
The Assassin 聶隱娘 / Nie Yin Niang Hou Hsiao-hsien Đài Loan, Trung Quốc, Hồng Kông, Pháp
Carol (QP) Todd Haynes Anh Quốc, Mỹ
Chronic Michel Franco Mexico, Pháp
Dheepan Jacques Audiard Pháp
The Lobster Yorgos Lanthimos Hy Lạp, Pháp, Ireland, Hà Lan, Anh Quốc
Louder Than Bombs Joachim Trier Na Uy, Pháp, Đan Mạch, Mỹ
Macbeth Justin Kurzel Anh Quốc, Pháp, Mỹ
Marguerite & Julien (QP) Marguerite et Julien Valérie Donzelli Pháp
The Measure of a Man La Loi du marché Stéphane Brizé Pháp
Mia Madre Nanni Moretti Ý
Mountains May Depart 山河故人 / Shan He Gu Ren Jia Zhangke Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp
My King Mon roi Maïwenn Pháp
Our Little Sister 海街diary / Umimachi Diary Hirokazu Koreeda Nhật Bản
The Sea of Trees Gus Van Sant Mỹ
Sicario Denis Villeneuve Mỹ
Son of Saul (CdO) Saul fia László Nemes Hungary
Tale of Tales Il racconto dei racconti Matteo Garrone Ý, Pháp, Anh Quốc
Valley of Love La Vallée de l'amour Guillaume Nicloux Pháp
Youth La giovinezza Paolo Sorrentino Ý, Pháp, Thụy Điển, Anh Quốc
(CdO) chỉ phim đủ điều kiện tranh cử Cành cọ vàng dưới dạng tác phẩm đạo diễn đầu tay.[29] - (QP) phim đủ điều kiện tranh cử Queer Palm.

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Jacques Audiard, chủ nhân Cành cọ vàng 2015
László Nemes, chủ nhân Giải thưởng lớn

Giải thưởng chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh cử chính[5][6]

Un Certain Regard[30][31]

Camera vàng

Cinéfondation[32]

  • Giải đầu tiên: Share của Pippa Bianco
  • Giải thứ hai: Lost Queens của Ignacio Juricic Merillán
  • Giải thứ ba: The Return of Erkin của Maria Guskova và Victor XX của Ian Garrido López

Phim ngắn

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Cannes Film Festival”. Cannes. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2014. 
  2. ^ “Joel and Ethan Coen to preside over the Jury of the 68th Festival de Cannes”. Cannes. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2015. 
  3. ^ “Coen brothers to jointly head Cannes jury”. BBC News. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2015. 
  4. ^ “Lambert Wilson to host ceremonies of the 68th Festival de Cannes”. Cannes. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 
  5. ^ a ă Henry Barnes (ngày 24 tháng 5 năm 2015). “Cannes 2015: Jacques Audiard's Dheepan wins the Palme d'Or”. The Guardian. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2015.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “guardian” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  6. ^ a ă Rebecca Ford (ngày 24 tháng 5 năm 2015). “Cannes: 'Dheepan' Wins the Palme d'Or”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2015.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “THR” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  7. ^ “Cannes Palme d'Or awarded to French film Dheepan”. BBC News. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2015. 
  8. ^ “It's poster time at the Festival de Cannes!”. Cannes. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2015. 
  9. ^ “Female Director Set to Open 2015 Cannes Film Festival”. Little White Lies. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2014. 
  10. ^ a ă “A hymn to save the planet as the Closing Film of the Cannes Film Festival: Ice and the Sky by Luc Jacquet”. Cannes Film Festival. Ngày 30 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2015. 
  11. ^ Peter Debruge and Elsa Keslassy (ngày 16 tháng 4 năm 2015). “Cannes: Thierry Fremaux Shares Secrets Behind the 2015 Selection”. Variety. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2015. 
  12. ^ Aurélien Ferenczi (ngày 27 tháng 4 năm 2015). “Thierry Fremaux: "Prognostics are for fans, not the coach of Cannes". Télérama.fr. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2015. 
  13. ^ a ă “A Palme d’honneur to Agnès Varda”. Cannes. 
  14. ^ “The Jury of the 68th Cannes Film Festival”. Cannes Film Festival. Bản gốc lưu trữ 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2015. 
  15. ^ “Jake Gyllenhaal, Sienna Miller and Guillermo del Toro Join Cannes Film Festival Jury”. The Wrap. Truy cập 21 tháng 4 năm 2015. 
  16. ^ “Isabella Rossellini, President of the Un Certain Regard Jury”. Festival de Cannes. Bản gốc lưu trữ 11 tháng 2 năm 2017. Truy cập 10 tháng 4 năm 2015. 
  17. ^ “Un Certain Regard Jury 2015”. Cannes Film Festival. 7 tháng 5 năm 2015. Bản gốc lưu trữ 19 tháng 5 năm 2015. Truy cập 7 tháng 5 năm 2015. 
  18. ^ “Sabine Azéma, President of the Caméra d’or Jury”. Cannes Film Festival. 5 tháng 5 năm 2015. Truy cập 5 tháng 5 năm 2015. 
  19. ^ Rhonda Richford (5 tháng 5 năm 2015). “Cannes: Sabine Azema Named Golden Camera Jury President”. Hollywood Reporter. Truy cập 5 tháng 5 năm 2015. 
  20. ^ “Abderrahmane Sissako, President of the Cinéfondation and Short Films Jury”. Festival de Cannes. Bản gốc lưu trữ 26 tháng 8 năm 2016. Truy cập 17 tháng 2 năm 2015. 
  21. ^ “The Cinéfondation and Short Films Jury”. Cannes Film Festival. 7 tháng 5 năm 2015. Bản gốc lưu trữ 19 tháng 5 năm 2015. Truy cập 7 tháng 5 năm 2015. 
  22. ^ Christophe Beney. “Cannes 2015 Info and Announcements, in Real Time”. Accréds. Truy cập 1 tháng 4 năm 2015. 
  23. ^ “Ronit Elkabetz, President of the 2015 International Critics' Week Jury”. Semaine de la Critique de Cannes. Bản gốc lưu trữ 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập 24 tháng 3 năm 2015. 
  24. ^ “Une nouveauté pour cette 68e édition du festival de Cannes !”. La Scam. 
  25. ^ “Cannes 2015 : Création d'un prix du documentaire”. Canal+. 
  26. ^ Judith Silberfeld (24 tháng 4 năm 2015). “Queer Palm 2015: Discover the jury, the poster and the films in competition”. Yagg. Truy cập 24 tháng 4 năm 2015. 
  27. ^ “2015 Official Selection”. Festival de Cannes. Bản gốc lưu trữ 18 tháng 4 năm 2015. Truy cập 16 tháng 4 năm 2015. 
  28. ^ “Complement to the Official Selection”. Cannes Film Festival. 23 tháng 4 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2015. Truy cập 23 tháng 4 năm 2015. 
  29. ^ “Around the selection 2015 - Camera d'or”. festival-cannes.com. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2015. 
  30. ^ Rebecca Ford (23 tháng 5 năm 2015). “Cannes: 'Rams' Wins Un Certain Regard Prize”. The Hollywood Reporter. Truy cập 23 tháng 5 năm 2015. 
  31. ^ Guy Lodge (23 tháng 5 năm 2015). “Cannes: Iceland’s ‘Rams’ Wins Un Certain Regard Award”. Variety. Truy cập 23 tháng 5 năm 2015. 
  32. ^ Casey Cipriani (22 tháng 5 năm 2015). “Cannes: Cinéfondation Short Film Winners Announced, Taissa Farmiga-Starring 'Share' Takes Top Prize”. Indiewire. Truy cập 22 tháng 5 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]