Mạc Tử Dung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Mạc Tử Dung[1] (鄚子溶,[2] ?-1780), là võ tướng trải hai triều chúa Nguyễn: Nguyễn Phúc ThuầnNguyễn Phúc Ánh trong lịch sử Việt Nam.

Thân thế và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Mạc Tử Dung là người Hà Tiên, là con trai thứ năm của Đô đốc Mạc Thiên Tứ và Hiếu Túc Thái phu nhân (Nguyễn Hiếu Túc).

Sử liệu không cho biết gì về thời tuổi nhỏ ông. Mãi đến khi chúa Định vương Nguyễn Phúc Thuần dừng đóng ở Bến Nghé (thuộc Gia Định), vào tháng 2 năm Ất Mùi (1775), Mạc Thiên Tứ đem các con từ Trấn Giang (nay là vùng Cần Thơ)[3], đến hành tại bái yết. Chúa khen và ủy lạo, gia thăng làm Đô đốc Quận công, cho con là Tử Dung làm Tham tướng Cai cơ[4], khiến điều về đạo Trấn Giang đóng giữ.

Kể từ khi được phong chức trên (1775) đến 1777, Mạc Tử Dung cùng với cha (Mạc Thiên Tứ) và các anh em khác là Mạc Tử Hoàng, Mạc Tử Thảng[5] phò tá chúa Nguyễn Phúc Thuần, đóng giữ ở Trấn Giang và dốc sức phát triển vùng đất này.

Quyển Hà Tiên trấn Hiệp trấn Mạc thị gia phả (gọi tắt là Mạc thị gia phả) của Vũ Thế Dinh [6], kể:

Ông (Mạc Thiên Tứ) bảo quan Tham tướng (Mạc Tử Dung) chỉ huy binh sĩ vào đạo Đông Khẩu (Sa Đéc) tập hợp lính tráng ủng hộ vua, và kết hợp các đạo quân để đánh quân Tây Sơn. Địch thua phải rút lui. Tham tướng trở về Trấn Giang lập chướng ngại, chống giữ cửa thành. Rồi vào khoảng tháng Bảy năm Đinh Dậu (1777), ông (Mạc Thiên Tứ) phụng giá đưa vua (Định Vương Nguyễn Phúc Thuần) đi trước, giữ Tham tướng ở lại, vào đoạn sông hẹp (vùng đất Cần Thơ) đốn cây, chặt gỗ mà lấp bít đường nước.[7].

Cũng vào năm ấy (1777), xa giá của Nguyễn Phúc Dương (tức Tân Chính Vương) bị quân Tây Sơn truy đuổi cũng chạy đến đây, nhưng vì binh lực của họ Mạc không cân sức, nên cuối cùng cả hai chúa Nguyễn (Nguyễn Phúc Thuần, Nguyễn Phúc Dương) đều bị bắt và bị giết chết.[8]

Sách Hoàng Việt hưng long chí kể tiếp:

Sau khi Nguyễn Huệ đã giành được toàn thắng, bèn sai người đi dò xét tông tích Thế Tổ (Nguyễn Phúc Ánh, cháu của Nguyễn Phúc Thuần, người được kế ngôi lúc mới 17 tuổi, khi cả hai chúa Nguyễn đều bị giết chết), lại sai người đến Kiên Giang chiêu dụ Mạc Thiên Tứ. Thiên Tứ không chịu theo, bèn lánh ra Phú Quốc. Ít lâu sau, vua nước Xiêm là Trịnh quốc Anh sai sứ đón Thiên Tứ (cùng các con) sang Xiêm. Tôn Thất Xuân từ Long Xuyên (Cà Mau) chạy thoát ra hải đảo, rồi theo Mạc Thiên Tứ sang Xiêm xin cứu viện.[9].

Kể về cái chết của nhiều người họ Mạc, trong số đó có Mạc Tử Duyên, sách Gia Định thành thông chí chép:

Canh Tý, năm thứ 3 (1780)...mùa hạ tháng 6, sai Cai cơ là Sâm Đức hầu, Tĩnh Viễn hầu làm sứ thần sang nước Xiêm. Vừa gặp tàu buôn của vua Xiêm về báo rằng, tàu (Xiêm) từ Quảng Đông (Trung Quốc) về, qua phần biển Hà Tiên bị chủ tướng là Chưởng cơ Thăng Bình hầu cướp của giết người. Phi Nhã Tân (Taksin, tức Trịnh Quốc Anh)[10] giận lây, bỏ sứ giả vào ngục. Rồi thì Bồ Ông Giao từ Cao Miên về Xiêm tố cáo rằng nó bắt được thư mật của Gia Định khiến Xuân Quận Công (Tôn Thất Xuân) và Tông Quận Công (Mạc Thiên Tứ) làm nội ứng mưu lấy thành Vọng Các. Vua Xiêm tin lời, ngày mồng 5 tháng 10 bắt giam tra hỏi, đều kêu oan không nhận. Tham tướng Mạc Tử Dung cố sức cải là bị oan. Phi Nhã Tân bèn đánh chết. Tông Quận Công tự tử. Ngày 24 tháng 10 năm Canh Tý (1780), Xuân Quận Công, sứ thần nước ta, cùng con cháu người nhà của Tông Quận Công, cộng 53 người đều bị giết chết. Phàm nhân dân Việt Nam ở đất ấy đều bị đày ra biên thùy xa.[11]

Năm 1788[12], theo Mạc thị gia phả, thì Cai cơ Mạc Công Bính, đem hài cốt Mạc Thiên Tích, Mạc Tử Dung...về cải táng nơi khu mộ dòng họ Mạc, trên núi Bình San, Hà Tiên.

Ngộ nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Chợ Xuân Khánh, tên cũ là chợ Tham Tướng

Họ Mạc có hai người làm Tham tướng, đó là Mạc Tử Dung và Mạc Tử Sanh.

Theo nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, thì không có ông nào mất ở Cần Thơ và những cái tên: cầu Tham Tướng, rạch Tham Tướng, chợ Tham Tướng (nay là chợ Xuân Khánh, thuộc phường Xuân Khánh, thành phố Cần Thơ), được đặt theo chức vụ của Mạc Tử Dung (Duyên). Vì theo Mạc thị gia phả, chính ông Duyên mới là người đã "lập chướng ngại chống giữ cửa thành...đốn cây chặt gỗ mà bít đường nước", và còn vì chỗ ấy, xưa là bản doanh của Tham tướng Duyên, chứ không phải của Mạc Tử Sanh như một số nguồn đã ghi [13].

Nguồn tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngô Giáp Đậu, Hoàng Việt hưng long chí.Nhà xuất bản Văn Học, 1993, tr. 79
  • Trương Minh Đạt, Nghiên cứu Hà Tiên, do Tạp chí Xưa & Nay và Nhà xuất bản Trẻ cùng ấn hành, 2008, tr. 137-148.
  • Địa chí Cần Thơ, đoạn liên quan tại địa chỉ: [2]
  • Huỳnh Minh, đoạn Mạc Tử Sanh trong Cần Thơ xưa tại địa chỉ: [3]
  • Nguyễn Q. Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1992, tr. 438.
  • Nhiều người soạn (Huỳnh Ngọc Trảng chủ biên), Sổ tay hành hương đất phương Nam. Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh, tr. 400.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mạc Tử Dung hay Duyên hay Diên (Nghiên cứu lịch sử, sách ở mục tham khảo, tr. 137), tuy nhiên, sách Hà Tiên trấn Hiệp trấn Mạc thị gia phả của Vũ Thế Dinh chép rõ tên là Tử Dung.
  2. ^ Nguồn: Hà Tiên trấn Hiệp trấn Mạc thị gia phả.
  3. ^ Lê Ngọc Miên, trong bài viết "Địa danh Tham tướng ở Cần Thơ" đăng trên tạp chí Xưa & Nay (số 258 tháng 4 năm 2006, tr. 40), viết rằng "lúc này, Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên, nghe chúa Nguyễn vào Nam mới thu xếp đem con đến bái yết" là không chính xác. Bởi vì năm 1771, quân Xiêm đánh chiếm và tàn phá Hà Tiên, Mạc Thiên Tứ cùng thân thuộc phải di tản về Trấn Giang. Năm 1772, chúa Nguyễn Phúc Thuần sai Chưởng cơ Nguyễn Cửu Đàm, thống suất hai đạo Bình KhánhBình Thuận, sang Chân Lạp đánh quân Xiêm và đưa Nặc Ông Tôn lên ngôi. Trịnh Quốc Anh làm áp lực buộc quân Việt phải dừng chân tại Bangkok không được tiến xa hơn. Sau cùng hai bên đi đến một thỏa thuận: chúa Nguyễn rút quân khỏi Chân Lạp và chấp nhận để Nặc Ông Nôn (Ang Non II), người được vua Xiêm chỉ định, lên ngôi vua, còn quân Xiêm rút khỏi Hà Tiên. Năm 1773, Trịnh Quốc Anh rút quân khỏi Hà Tiên, Phú QuốcHòn Đất, trả lại người con gái bị bắt làm tù binh cho Mạc Thiên Tứ, nhưng buộc Mạc Thiên Tứ phải giao hoàng tử Chiêu Thúy cho quân Xiêm. Chiêu Thúy bị Trình Quốc Anh mang về Bangkok hành quyết. Sau đó, Mạc Thiên Tứ sai con là Mạc Tử Hoàng về Hà Tiên tiếp nhận và sửa sang lại thành trì, dinh thự, còn ông vẫn ở lại Trấn Giang.
  4. ^ Sách Sổ tay hành hương còn cho biết hai người con khác của Mạc Thiên Tứ cũng được phong vào dịp này, đó là Mạc Tử Hoàng làm Chưởng cơ, Mạc Tử Thảng làm Cai cơ (sách ghi ở mục tham khảo, tr. 400).
  5. ^ Có sách ghi là Mạc Tử Thượng. Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Huỳnh Văn Tới, thì chữ "thảng" nghĩa là "sóng to hoặc nước chảy xuôi", dịch chữ "thảng" ra chữ "thượng" là dịch nhầm (xem giải thích ở tiểu mục 2.2 tại đây [1]).
  6. ^ Vũ Thế Dinh, biệt hiệu Thận Vi Thị, làm chức Hà Tiên trấn Tùng trấn cai đội, tước Dinh Đức hầu. Ông viết xong "Mạc thị gia phả" vào năm Gia Long thứ 17, ngày 19 tháng 6 năm Mậu Dần, tức ngày 21 tháng 7 năm 1818. Căn cứ theo lời bạt ở sách này thì ông mồ côi từ năm 9 tuổi, được vào làm môn nhân cho Mạc Thiên Tứ và được nuôi dạy cho đến khi nên người.
  7. ^ Dẫn lại theo Trương Minh Đạt (Nghiên cứu Hà Tiên, do Tạp chí Xưa & Nay và nhà xuất bản Trẻ cùng ấn hành, 2008, tr. 138). Gia phả này hiện có ở Thư viện Hán Nôm Hà Nội (bản A.39 và bản A. 1321).
  8. ^ Chúa Nguyễn Phúc Thuần bị Tây Sơn bắt tại vùng Ba Thắc (thuộc Cà Mau), chúa Nguyễn Phúc Dương bị bắt tại Ba Việt (tức Ba Vác, rạch Cái Mơn, cù lao Mỏ Cày ở Bến Tre) và đều bị hành quyết gần chùa Kim Chương (thuộc Gia Định) vào cuối năm 1777.
  9. ^ Trích Hoàng Việt hưng long chí. Và tác giả sách này, còn gọi Mạc Tử Dung là Dục (tr. 79 và 89).
  10. ^ sách Hoàng Việt hưng long chí ghi chú: Trịnh Quốc Anh là người Triều Châu, nhà Thanh. Cha tên là Yển, ngụ cư ở Xiêm làm quan trưởng đất Mường Tát. Ông Yển chết, Quốc Anh thay cha xưng là Phi Nhã Tân, có nghĩa là Quốc vương (tr. 78). Sách Nghiên cứu Hà Tiên ghi tên vua Xiêm này là Trịnh Tân. Và sách đã dẫn thêm một đoạn trong Lịch sử vương quốc Thái Lan': từ tháng 2 năm 1976 đến tháng 4 năm 1767, quân Miến Điện (hay Diến Điện) vây hãm rồi tàn phá kinh đô Ayuthya. Vua Xiêm và thái tử mất tích. Nhà nước hậu Ayuthya sụp đổ, loạn lạc nổi lên khắp nơi. Trịnh Tân (Phraya Tak) là một tướng gốc Hoa, cùng với 500 người chiếm cứ Chantaboun làm căn cứ. Tháng 10 năm 1767, họ chiếm lại Vọng Các (Bangkok), dân chúng đồng lòng tôn ông lên làm vua. Sau đó, Trịnh Tân đánh đuổi được quân Miến Điện. Vì thế, tác giả Nghiên cứu Hà Tiên kết luận Trịnh Tân không phải là người cưỡng đoạt (tiếm vị) ngôi vua Xiêm, như một số tác giả trước đây đã viết (tr. 156).
  11. ^ Trịnh Hoài Đức, Gia định thành thông chí (Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, tr. 129). Ông Nguyễn Quảng Tuân trong bài viết “Chữ Hiểu trong nhan đề bài thơ Tiêu Tự hiểu chung” trên tạp chí Hán Nôm số 5 (60) năm 2003 và Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, sách ghi ở mục tham khảo, cùng cho rằng Mạc Tử Hoàng chết ở bên Xiêm cùng với Mạc Thiên Tứ (tử tiết), Mạc Tử Thảng, Tử Tử Dung (cả hai đều bị vua Xiêm sai giết) là không đúng. Căn cứ vào mộ bia của Mạc Tử Hoàng trên núi Bình San (Hà Tiên), thì ông mất năm 1820. Hằng năm, cứ đến ngày 24 tháng 10 âm lịch, tại Đền thờ họ Mạc, một lễ cúng “Đồng cuộc” (tức giỗ hội) được tổ chức trọng thể, để tưởng nhớ 36 người họ Mạc bị tử nạn ở Xiêm năm Canh Tý (1780). Trương Minh Đạt cho rằng Mạc Thị gia phả (do Nguyễn Khắc Thuần dịch) chép sự kiện ấy xảy ra ngày 21 tháng 12 âm lịch là sai (Nghiên cứu Hà Tiên, tr. 346).
  12. ^ Cũng trong Mạc thị gia phả, ở phần phụ ngoại bản lại chép 1792, là năm cải táng. Như vậy, việc mâu thuẫn này cần tra cứu thêm.
  13. ^ Nghiên cứu Hà Tiên, tr. 138-139. Và nếu theo ông Đạt, thì các sách như: Cần Thơ xưa và nay của Huỳnh Minh, Địa chí Cần Thơ, ghi Tham tướng Mạc Tử Sanh đã chết bệnh ở Cần Thơ hoặc đã tử trận trong khi đánh nhau với quân Tây Sơn ở Cần Thơ là sai. Ngoài ra, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam còn ghi chú: "(Mạc Tử Sanh) có sách chép là Mạc Tử Duyên", khiến người đọc hiểu lầm Mạc Tử Duyên và Mạc Tử Sanh là một người.