Maurice Wilkins

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Maurice Wilkins
Maurice Wilkins with one of the cameras he developed specially for X-ray diffraction studies at King's College London[1]
Sinh Maurice Wilkins 

15 tháng 12, 1916(1916-12-15)
Pongaroa, Wairarapa,
New Zealand
Mất 5 tháng 10, 2004 (87 tuổi)
Blackheath, London
Ngành Vật lý học, Molecular biology
Alma mater St John's College, Cambridge
University of Birmingham
Nổi tiếng vì X-ray diffraction, DNA
Giải thưởng

Maurice Hugh Frederick Wilkins (15 tháng 12 năm 1916 – 5 tháng 10 năm 2004)[2] là nhà vật lý, nhà sinh học phân tử người New Zealand, và đã đoạt giải Nobel Y học. Ông là người đã có nhiều nghiên cứu đóng góp cho khoa học về lân, tách đồng vị, kính hiển vi quang họcX-ray nhiễu xạ, cùng với việc phát triển radar. Ông được biết đến nhiều nhất về sự nghiệp nghiên cứu của mình tại Đại học King, London về cấu trúc của DNA.

Việc nghiên cứu của ông trên ADN chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là ở 1948-50, khi lần đầu nghiên cứu tạo ra hình ảnh X-quang đầu tiên của DNA, ông đã trình bày nó ở một hội nghị tại Naples trong năm 1951 có tham dự của James Watson. Trong giai đoạn thứ hai, 1951-52, Wilkins tạo ra  hình ảnh "Hình dạng B" "X" từ tinh dịch của mực ống, và ông đã gửi nó đến James Watson và Francis Crick, Watson đã viết sau khi xem nó: "Wilkins... đã có những hình ảnh X-quang cực kì tuyệt vời" [của DNA].[4][5]

Năm 1953, đồng nghiệp của ông là nữ khoa học gia Rosalind Franklin đã tăng độ phân giải bức ảnh của Wilkins vào năm 1952. Bức ảnh đấy, cùng với những phát kiến của Linus Pauling đã góp phần tạo ra một cấu trúc gần hoàn chỉnh của DNA. Sau này,  James Watson và Francis Crick đã dựa vào đó để mô tả một cách hoàn chỉnh cấu trúc xoắn kép của DNA năm 1953.

Wilkins đã tiếp tục kiểm tra và thay đổi đáng kể mẫu DNA của Watson-Crick để nghiên cứu các cấu trúc ARN.[6] Năm 1962, Wilkins, Crick, và Watson đã được trao Giải Nobel Y học, "cho những khám phá của họ về cấu trúc phân tử của axit nucleic và ý nghĩa của nó trong di truyền học."[7]

Đài tưởng niệm của Maurice Wilkins tại Main Street, Pongaroa, New Zealand

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Science mourns DNA pioneer Wilkins”. BBC News. Ngày 6 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2016. 
  2. ^ a ă Arnott, S.; Kibble, T. W. B.; Shallice, T. (2006). “Maurice Hugh Frederick Wilkins. ngày 15 tháng 12 năm 1916 -- ngày 5 tháng 10 năm 2004: Elected FRS 1959”. Biographical Memoirs of Fellows of the Royal Society (London: Royal Society) 52: 455–478. PMID 18551798. doi:10.1098/rsbm.2006.0031. 
  3. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên membo
  4. ^ Robert Olby; The Path to The Double Helix: Discovery of DNA; p366
  5. ^ James D. Watson, The Annotated and Illustrated Double Helix p180
  6. ^ Arnott, Struther. “Crystallography News: An historical memoir in honour of Maurice Wilkins 1916–2004” (PDF). 
  7. ^ The Nobel Prize in Physiology or Medicine 1962. Nobel Prize Site for Nobel Prize in Physiology or Medicine 1962.