Max Hastings

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sir Max Hastings
Sir Max Hugh Macdonald Hastings.jpg
Max Hastings tại tiệc kỷ niệm 125 Financial Times, Luân Đôn, tháng 6 năm 2013
SinhMax Hugh Macdonald Hastings
28 tháng 12, 1945 (73 tuổi)
Lambeth, Luân Đôn, Anh Quốc
Nơi cư trúHungerford, Berkshire, Anh Quốc
Nghề nghiệpNhà báo, nhà viết sách
Chiều cao6 ft 5 in (1,96 m)
Vợ/chồng
  • Patricia Edmondson
    (cưới 1972; li dị 1994)
  • Penelope Levinson
    (cưới 1999)
Con cái2
Cha mẹ

Sir Max Hugh Macdonald Hastings (sinh ngày 28 tháng 12 năm 1945) là một nhà báo, đã làm việc như là một phóng viên ở nước ngoài cho BBC, tổng biên tập của tờ The Daily Telegraph, biên tập viên của Evening Standard. Ông cũng là tác giả của rất nhiều cuốn sách, chủ yếu về vấn đề quốc phòng, nhiều cuốn giành được nhiều giải thưởng lớn.

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Cha mẹ Hastings là Macdonald Hastings, một nhà báo, phóng viên chiến tranh và Anne Scott-James,  biên tập viên của Harper ' s Bazaar.[1] Ông được giáo dục tại Charterhouse School và University College, Oxford, nơi mà ông đã bỏ học sau một năm.[2]

Ông sau đó đi sang Mỹ, làm việc một năm (1967-68) cho Viện báo chí thế giới, rồi xuất bản cuốn sách đầu tay America, 1968: The Fire This Time, về nước Mỹ trong năm bầu cử đầy náo động. Ông rồi trở thành một phóng viên ở nước ngoài và tường thuật từ hơn sáu mươi nước và mười một cuộc chiến tranh cho BBC TV của loạt phim 24 giờ chương trình về các vấn đề hiện tại và cho the Evening Standard ở Luân Đôn.

Hastings là nhà báo đầu tiên tới Cảng Stanley trong năm 1982 lúc Chiến tranh Falkland đang xảy ra. Sau mười năm làm biên tập viên và sau đó, tổng biên tập của The Daily Telegraph, ông trở về làm cho Evening Standard như là biên tập viên trong năm 1996 cho đến khi nghỉ hưu vào năm 2002. Hastings được bổ nhiệm làm Knight Bachelor trong năm 2002.[3]

Ông đã trình bày các bộ phim tài liệu lịch sử cho BBC và là tác giả của nhiều cuốn sách, bao gồm cả Bomber Command, đã giành được giải thưởng Somerset Maugham cho sách không hư cấu vào năm 1980. Cả hai cuốn Overlord và The Battle cho Falklands đã giành được giải thưởng Yorkshire Post Book of Year. Ông được phong là nhà báo của năm và Phóng viên của năm tại Giải thưởng Báo chí Anh năm 1982, và Biên tập viên của năm 1988. Năm 2010, ông nhận Huân chương Westminster của Royal United Services Institute cho "sự đóng góp suốt đời cho văn học quân sự", và cùng năm Giải thưởng Edgar Wallace từ Câu lạc bộ Báo chí Luân Đôn.[4]

Trong cuốn sách năm 2007 của ông, Nemesis: The Battle for Japan, 1944–45, chương về vai trò của Úc trong năm cuối của cuộc chiến tranh Thái Bình Dương đã bị chỉ trích bởi người đứng đầu Hiệp hội Returned and Services League of Australia và một trong những nhà sử học tại Đài Tưởng niệm Chiến tranh Úc, bị cáo buộc gây sự bất mãn trong quân đội Úc.[5] Dan van der Vat trong The Guardian gọi nó là "đồng đều", "làm mới" và "nhạy cảm" và ca ngợi ngôn ngữ được sử dụng.[6] Tờ Spectator gọi nó là "xuất chúng" và ca ngợi ông kể về phía nhân bản của câu chuyện.[7]

Năm 2012, ông được trao giải thưởng Văn học Thư viện Quân sự Pritzker trị giá 100.000 đô la Mỹ, một giải thưởng thành đạt suốt đời cho các văn bản quân sự, bao gồm một danh dự, trích dẫn và huy chương, được tài trợ bởi Quỹ Tawani có trụ sở tại Chicago.[8] Hastings là thành viên của Hội Văn học Hoàng gia và Hội Lịch sử Hoàng gia. Ông là Chủ tịch của Chiến dịch Bảo vệ nông thôn Anh từ 2002-2007.

Vietnam: An Epic Tragedy 1945-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Vietnam: An Epic Tragedy 1945-1975 (Việt Nam: Một bi kịch vĩ đại 1945-1975). là một cuốn sách hơn 700 trang về chiến tranh Việt Nam của Hastings, được xuất bản 2018. Ông cho biết, đây là cuốn sách chủ yếu viết về người Việt, ông tập trung vào người Việt cả cộng sản và chống cộng, đọc hàng ngàn trang bản dịch các tài liệu và hồi ký,và làm phỏng vấn ở cả Mỹ và Việt Nam.

Hatings công nhận là, Hồ Chí Minh và Việt Minh luôn xứng đáng được người Việt Nam ngưỡng mộ, biết ơn vì đấu tranh loại bỏ người Pháp khỏi Việt Nam. Nhưng mặt khác, sự tàn nhẫn và thất bại về kinh tế theo sau việc đưa chủ nghĩa cộng sản vào miền Bắc và sau này trên cả nước đã áp đặt một cái giá quá lớn lên người Việt.

Ông cho là mình đã trình bày công bằng về tầm mức thất bại, sự ngu dốt của người Mỹ, những điều tệ hại mà họ làm. Theo Hastings,người Mỹ đã thua, vì người Việt căm ghét sự can thiệp của nước ngoài, và người Mỹ không hành động dựa theo mong muốn, lợi ích của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, Mỹ "thua" về quân sự nhưng rốt cuộc "chiến thắng" ở Việt Nam về văn hóa và kinh tế.

Hastings cũng nhắc tới sự tàn bạo của miền Bắc: sự thờ ơ của Lê Duẩn trước tầm mức thương vong của quân miền Bắc để đạt được mục tiêu thống nhất; tầm mức các chiến dịch gây khiếp sợ ở miền Nam và ở cả miền Bắc sau 1954 như Cải cách Ruộng đất, hợp tác hóa. Ông cho cuộc chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến áp đặt lên người dân Việt Nam bởi cả người cộng sản và Phương Tây. Theo ông cả hai phe đều không xứng đáng chiến thắng. Cả hai phe đều cư xử tệ với nhân dân Việt Nam.[9]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sống ở Hungerford với ngườivợ thứ hai của ông Penelope (nhũ danh Levinson) người mà ông kết hôn năm 1999. Hastings có một người con trai còn sống sỏt và con gái của vợ trước, Patricia Edmondson, người mà ông đã kết hôn từ năm 1972 cho đến năm 1994. Vào năm 2000, một người con trai lớn tuổi hơn của ông 27 tuổi tên Charles đã tự tử tại Ninh Ba ở Trung quốc. Ông dành cuốn sách Nemesis: The Battle For Japan 1944–45 để tưởng nhớ người con trai đó.

Quan điểm chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Hastings đã hỗ trợ cả Đảng Bảo thủĐảng Lao động. Ông tuyên bố hỗ trợ cho Đảng Bảo thủ tại cuộc tổng tuyển cử năm 2010,trước đây đã bỏ phiếu cho Đảng Lao động trong cuộc tổng tuyển cử năm 1997 và 2001. chung cuộc bầu cử. Anh tuyên bố rằng "bốn nhiệm kỳ là quá nhiều đối với bất kỳ chính phủ" và mô tả Gordon Brown là "tâm lý hoàn toàn không thích hợp để làm Thủ tướng".[10]

Vào tháng 8 năm 2014, Hastings là một trong 200 nhân vật của quần chúng, đã ký một bức thư gửi cho The Guardian phản đối sự độc lập của Scotland trước cuộc trưng cầu dân ý tháng 9 về vấn đề đó.[11]

Chọn tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Hastings, Sir Max (Macdonald), (born 28 Dec. 1945), author and journalist”. Who's Who. 2007. doi:10.1093/ww/9780199540884.013.19444. 
  2. ^ “- Person Page 668”. thepeerage.com. 
  3. ^ Birthday honour list
  4. ^ “Biography”. Max Hastings. 18 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2014. 
  5. ^ “Mutinous jibe angers veterans”. 
  6. ^ “Review: Nemesis by Max Hastings”. 
  7. ^ “The worst of friends”. 
  8. ^ “Britain's Max Hastings wins $100K military writing prize”. CBC News. 19 tháng 6 năm 2012. 
  9. ^ Max Hastings về cuộc chiến VN: ‘Không phe nào đáng chiến thắng', BBC, 20.9.2018
  10. ^ “My vote”. 
  11. ^ “Celebrities' open letter to Scotland – full text and list of signatories”. The Guardian. 7 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2014.