Mose Allison

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mose Allison
Mose Allison-Bonnie Raitt.jpg
Allison năm 1975
Sinh Mose John Allison Jr.
11 tháng 11, 1927(1927-11-11)
Tippo, Mississippi, Hoa Kỳ
Mất 15 tháng 11, 2016 (89 tuổi)
Hilton Head, South Carolina, Hoa Kỳ
Website moseallison.com
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại Jazz, jazz blues, blues
Nhạc cụ Dương cầm, hát, trumpet
Năm hoạt động 1956–2016

Mose John Allison Jr. (11 tháng 11 năm 1927 – 15 tháng 11 năm 2016) là một ca sĩ, nghệ sĩ dương cầm và nhạc sĩ người Mỹ.[1] Ông nổi tiếng nhờ sự pha trộn độc đáo giữa nhạc bluesjazz đương đại, trong cả ca hát lẫn chơi dương cầm. Sau khi chuyển tới New York năm 1956, ông chủ yếu làm việc trong bối cảnh nhạc jazz cùng nhiều nhạc sĩ như Stan Getz, Al CohnZoot Sims.

Ông được miêu tả là "một trong những nhạc sĩ blues xuất sắc nhất thế kỷ 20."[2] Những bài hát của ông phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng gợi nên tâm trạng, với đặc tính "kỳ quặc" và nét hài hước mỉa mai nhẹ nhàng.[3] Sáng tác của ông gây ảnh hưởng tới thể loại R&B, khiến nhiều người hâm mộ thu âm lại những bài hát của mình, trong số đó có Pete Townshend thu "A Young Man's Blues" cho album Live At Leeds (1970) của nhóm The Who. John Mayall là một trong nhiều người thể hiện lại ca khúc "Parchman Farm" và Georgie Fame sử dụng nhiều ca khúc của Allison. Những phần trình diễn khác bao gồm Leon Russell ("I'm Smashed") và Bonnie Raitt ("Everybody's Crying' Mercy"). Những năm 1990, những bản thu âm của ông trở nên nhất quán hơn. Van MorrisonBen Sidran hợp tác với ông trong album Tell Me Something: The Songs of Mose Allison. The Pixies viết bài hát "Allison" để tri ân tới ông.

Allison gây nhiều ảnh hưởng tới những nhạc sĩ khác, như Tom Waits, Jimi Hendrix, The Yardbirds, The Rolling StonesPete Townshend. Ông được bổ nhiệm vào Đại lộ Danh vọng âm nhạc Long Island năm 2006.[4]

Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Allison sinh tại Tippo, Mississippi, trong nông trại của ông mình.[5] Ông học dương cầm năm lên 5,[6] chơi dương cầm trong trường ngữ pháp và trumpet ở trường trung học,[7] rồi viết bài hát đầu tiên năm 13 tuổi.[8][9]

Allison có một khoảng thời gian theo học trường Đại học Mississippi, sau đó đi nghĩa vụ theo quân đội Hoa Kỳ trong hai năm.[10] Không lâu sau khi xuất ngũ, ông đến trường Đại học bang Louisiana, nơi ông tốt nghiệp năm 1952 với Bằng cử nhân nghệ thuật ngành Ngữ văn.[11]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1956, Allison chuyển tới thành phố New York và mở ra sự nghiệp nhạc jazz, trình diễn với nhiều nghệ sĩ như Stan Getz, Gerry Mulligan, Al Cohn, Zoot SimsPhil Woods.[7] Album đầu tay Back Country Suite được hãng Prestige xuất bản năm 1957. Ông trình diễn với tay bass Addison Farmer và tay trống Nick Stabulas năm 1958.

Tới năm 1963, hãng thu âm mới cho phép ông phát hành album đơn ca. Mang tựa đề Mose Allison Sings, đây là tập hợp những bài hát từ các album Prestige trước đây, tri ân nhiều nghệ sĩ của Mojo Triangle: Sonny Boy Williamson ("Eyesight to the Blind"), Jimmy Rogers ("That's All Right") và Willie Dixon ("The Seventh Son"). Dù vậy, sáng tác "Parchman Farm" cũng tạo nên sự chú ý của khán giả; trong hơn 2 thập niên, "Parchman Farm" là bài hát được yêu cầu nhiều nhất của ông. Ông loại bỏ bài hát này khỏi danh sách bài hát những năm 1980, vì một vài nhà phê bình cảm thấy bài hát sai lệch về chính trị[12]

Allison năm 2007

Prestige cố quảng bá Allison như một ngôi sao nhạc pop, nhưng ColumbiaAtlantic lại đưa ông hình ảnh của một nghệ sĩ nhạc blues. Vì ông hát blues, tạp chí Jet tưởng ông là nhạc sĩ da màu và muốn phỏng vấn ông.[13] Album The Way of the World phát hành vào tháng 3 năm 2010, là album đầu tiên của ông sau 12 năm vắng bóng trong phòng thu.[14]

Allison sáng tác khoảng 150 bài hát.[6] Năm 2012, Allison được vinh danh ở Mississippi Blues Trail tại quê nhà Tippo.[15] Vào ngày 14 tháng 1 năm 2013, ông được trao Jazz Master tại National Endowment for the Arts, danh hiệu cao quý nhất của dòng nhạc jazz tại Hoa Kỳ, trong một buổi lễ tại Lincoln Center, New York.[16]

Đời tư và qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Mose kết hôn với Audre vào năm 1949.[17] Họ sống ở Long Island và nuôi dưỡng 4 người con, bao gồm đứa con gái Amy, là một nhạc sĩ.[9][18][19] Allison mất 4 ngày sau sinh nhật lần thứ 89 vào ngày 15 tháng 11 năm 2016, tại tư gia ở Hilton Head, South Carolina.[20]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng hợp[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1963: Mose Allison Sings (Prestige 7279)
  • 1965: Down Home Piano (Prestige 7423)
  • 1965: Mose Allison Plays for Lovers (Prestige 7446)
  • 1970: The Best of Mose Allison (Atlantic; tái phát hành CD với 7 bài hát bổ sung năm 1988)
  • 1972(?): Retrospective (Columbia)
  • 1979: Ol' Devil Mose [compilation] (Prestige 24089)
  • 1994: Allison Wonderland Anthology (Rhino)

Hợp tác[sửa | sửa mã nguồn]

Với Al Cohn

Với Stan Getz

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cook, Richard (2005). Richard Cook's Jazz Encycolpedia. London: Penguin Books. tr. 10. ISBN 0-141-00646-3. 
  2. ^ Bogddanov, Vladimir; Woodstra, Chris, editors, All Music Guide to the Blues: The Definitive Guide to the Blues, Hal Leonard Corp. (2003) p. 7
  3. ^ Komara, Edward; Lee, Peter. editors. The Blues Encyclopedia, Routledge (2006) p. 22
  4. ^ Long Island Music Hall of Fame
  5. ^ “Mose Allison”. Blues Access. Spring 1998. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2014. 
  6. ^ a ă “Interview: Mose Allison (Part 1)”. JazzWax. Ngày 9 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  7. ^ a ă Feather, Leonard & Gitler, Ira (2007) The Biographical Encyclopedia of Jazz', Oxford University Press, p. 14.
  8. ^ Allison, Mose. “Interview: How Joe Henry Coaxed Mose Allison, and His Tongue, Back into the Studio”. NPR. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  9. ^ a ă “An interview with jazz and blues singer Mose Allison, World Socialist Web Site”. Wsws.org. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  10. ^ Myers, Mark (ngày 9 tháng 9 năm 2010). “Interview: Mose Allison (Part 1)”. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2014. 
  11. ^ Dickerson, James L. (2005). Mojo Triangle: Birthplace of Country, Blues, Jazz and Rock 'n' Roll (Schirmer Trade Books), pp. 110–112.
  12. ^ 901 Interview (May 1987), Nine-O-One Network Magazine, p. 6.
  13. ^ “Jazz Profiles from NPR: Mose Allison”. NPR. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2014. 
  14. ^ “Mose Allison Official Web Site”. 2010. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2014. 
  15. ^ “Mose Allison”. Msbluestrail.org. Ngày 11 tháng 11 năm 1927. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  16. ^ “NEA Jazz Masters”. Arts.gov. Ngày 11 tháng 11 năm 1927. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  17. ^ Lawrence, Stratton (ngày 24 tháng 1 năm 2012). “Mose Allison Doesn't Let It Go to His Head”. Charleston City Paper. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  18. ^ “Biography”. MoseAllison.com. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  19. ^ “Audre Allison: On a Joyride Called Life”. Itsallpink.com. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  20. ^ “RIP Mose Allison, One-of-a-Kind Jazz Pianist/Songwriter”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]