Nạn phá rừng ở Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Xe đổ chế lâm tặc dùng để chở gỗ trái phép tại khu bảo tồn thiên nhiên Easô thuộc Tây Nguyên

Chặt phá rừng là một trong những vấn nạn hàng đầu ở Việt Nam. Theo báo cáo số liệu năm 2005 của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), Việt Nam là nước có tỉ lệ phá rừng nguyên sinh đứng thứ 2 trên thế giới, chỉ sau Nigeria[1]. Nguyên nhân mất rừng trầm trọng do sự yếu kém và tham nhũng của chế độ hiện hành trong công tác bảo vệ rừng, sự thông đồng, cấu kết, tiếp tay, chia chác của các giới chức hữu quan từ các nhà lãnh đạo cho đến công chức quản lý cũng như lực lượng kiểm lâm đã tiếp tay cho lâm lặc chặt phá rừng. Các hình thức phá rừng ngày càng tinh vi và trắng trợn như chuyển đổi rừng, phê duyệt các dự án đầu tư đã gây bất bình trong dư luận nhưng lại bị chính quyền cố tình bỏ lơ.

Tây nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ trong 5 năm (tính đến 2013), khu vực Tây Nguyên mất đến hơn 130.000 ha rừng (trong số 2,84 triệu ha). Trong đó rừng tự nhiên mất hơn 107.400 ha, rừng trồng mất trên 22.200 ha.[2] Trong 5 năm qua các tỉnh Tây Nguyên đã cấp phép đầu tư cho hơn 700 dự án trên đất lâm nghiệp với tổng diện tích gần 216.000 ha, trong đó có hơn 100.000 ha chuyển sang trồng cao su. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp lợi dụng dự án để chiếm phá, khai thác rừng hoặc không đủ năng lực tài chính, thiếu trách nhiệm khiến rừng bị tàn phá, lấn chiếm trái phép.[2]

Năm 2017[sửa | sửa mã nguồn]

Trong 9 tháng đầu năm 2017, cả nước phát hiện gần 1.700 vụ phá rừng trái pháp luật... Riêng khu vực Tây Nguyên, từ đầu năm đến nay phát hiện 757 vụ, tăng 88 vụ (13%), diện tích rừng bị thiệt hại gần 420 ha, tăng 145 ha (trên 50%) so với cùng kỳ 2016.

Tại Đắk Nông, diện tích rừng bị phá từ đầu năm đến nay tới 225 ha, tăng gần 100 ha so với cùng kỳ năm ngoái.

Tâm điểm phá rừng thời gian qua ở khu vực phía Bắc được nhắc đến nhiều là ở tỉnh Điện Biên. Tại huyện Mường Nhé, từ năm 2016 đến 9/2017, đã phát hiện 295 vụ phá rừng trái pháp luật, thiệt hại 288 ha rừng.

Đáng lưu ý, một số vụ phá rừng nghiêm trọng ở các tỉnh Tây Nguyên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Nghệ An, Bắc Kạn, Điện Biên được phát hiện chậm.Theo Bộ NN&PTNT, chính việc xử lý thiếu kiên quyết, không nhất quán, thậm chí có biểu hiện né tránh trách nhiệm, làm ngơ, tiếp tay cho người phá rừng, gây thiệt hại lớn đối với tài nguyên rừng, gây bức xúc trong xã hội.

Theo Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), chỉ hơn 5 năm qua (2012-2017), diện tích rừng tự nhiên bị mất do chuyển mục đích sử dụng rừng tại các dự án được duyệt chiếm 89% tổng diện tích rừng giảm; còn lại là do phá rừng trái pháp luật làm mất 11%.

Từ tổng hợp của 58 tỉnh, thành phố trên cả nước cho thấy, trong khoảng 5 năm qua, các cơ quan nhà nước đã phê duyệt chuyển mục đích sử dụng rừng gần 38.300 ha/1.892 dự án. Trong đó rừng tự nhiên gần 19.000 ha, rừng trồng hơn 15.800 ha, đất chưa có rừng quy hoạch cho lâm nghiệp trên 3.500 ha. [3]

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Lũ lụt, sạt lở[sửa | sửa mã nguồn]

GS Nguyễn Ngọc Lung, chuyên gia ngành lâm nghiệp Việt Nam cho rằng, lũ lụt, sạt lở ngày càng trầm trọng là do mất rừng. Rừng nhiệt đới có nhiều tầng, có cây 40-50m, dưới còn có thảm thực vật và các tầng cây khác. Nếu lượng mưa không lớn, nước chỉ ở trên tầng các lá cây, thậm chí không rơi được xuống đất. Còn khi nước mưa xuống đất, đã có lớp đầu thảo mục (cành, lá cây mục…) sẽ giữ nước tới 80-90% và ngấm dưới đất tạo thành mạch nước ngầm. Còn nước mặt 10-20% là lượng nhỏ, ít có khả năng gây lũ ống, lũ quét cho con người. Cũng theo ông, với các loại rừng khác, chỉ có tác dụng cản lũ và giữ nước khoảng 20-50% so với rừng tự nhiên. [3]

Nỗ lực[sửa | sửa mã nguồn]

Trước sự bất lực của giới chức Việt Nam, cộng đồng quốc tế đã phải có những nỗ lực yểm trợ. Theo Trung tâm giám sát bảo tồn thế giới, Việt Nam có gần 1.534 loài động thực vật và 10.500 loài thực vật có mạch, 3,4% đã được Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế bảo vệ chứ không phải là chính quyền Việt Nam. Tổng diện tích rừng tại Việt Nam đã trải qua quá trình chuyển đổi, sau nhiều thập kỉ xảy ra nạn phá rừng thì độ che phủ của rừng đã tăng lên đáng kể từ đầu những năm 1990.[4] Vào năm 2005, Khoảng 12.931.000 ha (tương đương với 39,7% diện tích đất của Việt Nam) đã được trồng rừng, mặc dù chỉ có khoảng 85.000 ha (0,7% của độ che phủ đất) là rừng nguyên sinh, với nhiều hình thức rừng khác nhau.[5]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Butler, Rhett A. "Nigeria has worst deforestation rate, FAO revises figures". mongabay.com. ngày 17 tháng 11 năm 2005.
  2. ^ a ă “Ai đã xóa sổ 130.000 ha rừng Tây Nguyên?”. cafef. 11 tháng 3 năm 2014. Truy cập 16 tháng 5 năm 2016. 
  3. ^ a ă “Lũ quét, lở đất do mất rừng: Ai chịu trách nhiệm?”. tienphong.vn. 16 tháng 10 năm 2017. Bản gốc lưu trữ 16 tháng 10 năm 2017. Truy cập 16 tháng 10 năm 2017. 
  4. ^ Patrick Meyfroidt, Eric F. Lambin (2008). "Forest transition in Vietnam and its environmental impacts." Global Change Biology 14 (6), pp. 1319–1336.
  5. ^ "Vietnam Deforestation Rates and Related Forestry Figures". mongabay.com. Retrieved on ngày 31 tháng 5 năm 2009.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]