Natri hyaluronat

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Natri hyaluronat
Sodium hyaluronate.svg
Dữ liệu lâm sàng
Tên thương mại Healon, Provisc, Viscoat, Hyalgan, Euflexxa, Supartz, Gel-One
Hiệp hội Dược sĩ Hoa Kỳ (AHFS) Thông tin Tiêu Dùng Multum
Các định danh
ECHA InfoCard 100.130.288
  (kiểm chứng)

Natri hyaluronat là muối natri của axit hyaluronic, và glycosaminoglycan được tìm thấy trong các mô liên kết khác nhau của con người.

Hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

 Natri hyaluronat là muối natri của axit hyaluronic. Nó là một glycosaminoglycan và polyme chuỗi dài các đơn vị disaccharide của Na-glucuronate-N-acetylglucosamine. 

Sự xuất hiện trong tự nhiên [sửa | sửa mã nguồn]

Natri hyaluronate được phân bố rộng rãi trong ma trận ngoại bào của các mô liên kết, biểu mô, và thần kinh của động vật có vú, cũng như trong nội mạc giác mạc.

Cơ chế hoạt động [sửa | sửa mã nguồn]

 Natri hyaluronat hoạt động như một chất bôi trơn của mô và được cho là đóng một vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các tương tác giữa các mô lân cận. Nó tạo thành một dung dịch viscoelastic trong nước. Bảo vệ cơ cho mô (iris, võng mạc) và các lớp tế bào (giác mạc, nội mô và biểu mô). Tính đàn hồi của dung dịch giúp hấp thụ áp lực cơ học và cung cấp đệm bảo vệ cho mô. Để tạo thuận lợi cho việc chữa lành vết thương, người ta nghĩ rằng nó hoạt động như một phương tiện vận chuyển bảo vệ, sử dụng các yếu tố tăng trưởng peptide và các protein cấu trúc khác đến nơi hành động. Sau đó, các enzyme bị phân hủy và hoạt tính protein được giải phóng để thúc đẩy quá trình sửa chữa mô.[1]

Tác dụng phụ [sửa | sửa mã nguồn]

Tác dụng ngoài ý muốn tương đối hiếm khi được sử dụng để điều trị các khớp.

 Khi sử dụng trong nhãn khoa, natri hyaluronat có thể gây viêm hậu môn, phù nề giác mạc hoặc tăng áp lực nội nhãn ngắn.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

 Vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, chất liệu đã được sử dụng với nhãn hiệu Hylartin và Hylartin Vetused trong các thử nghiệm lâm sàng của con người và thú y (ngựa đua) để điều trị viêm xương khớp. [2]Hyaluronat natri bán được đầu tiên được sản xuất bởi Endre Alexander Balazs dưới nhãn hiệu Healon, được sản xuất bởi Pharmacia AB ở Thu Sweden Điển vào năm 1980. Năm 1986, natri hyaluronate được sử dụng như là một mũi tiêm trong khớp để điều trị chứng viêm khớp khớp gối với sản phẩm Hyalart / Hyalgan của Fidia của Ý.[3]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ . doi:10.1016/S0022-5347(05)65472-9.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  2. ^ History of Hyaluroan Science, E.A. Balazs, I. Hargittai, M. Hargitti, Hyaluronan, From Basic Science to Clinical Applications, Volume 2. Published by Pubmatrix 2011 (ISBN 978-0-9820350-4-7)
  3. ^ http://www.fidiapharma.us/en/news-events/2011/fidia-farmaceutici-s-p-a-to-distribute-and-promote-hyalgan-sodium-hyaluronate-for-treatment-of-osteoarthritis,3,13[liên kết hỏng]