Natri thioantimoniat

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Natri thioantimoniat
Danh pháp IUPACNatri thioantimoniat
Thuộc tính
Công thức phân tửNa3SbS4·9H2O
Bề ngoàitinh thể màu vàng
Khối lượng riêng1.806 g/cm³, rắn
Điểm nóng chảy87°C (360.15 K)
Điểm sôi
Các hợp chất liên quan
Anion khácKali thioantimoniat
Hợp chất liên quanAntimon(III) sunfua (stibnite)
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).
Có  kiểm chứng (cái gì Có KhôngN ?)

Natri thioantimoniat, còn được gọi là muối Schlippe, là một hợp chất vô cơ có công thức Na3SbS4.9H2O. Muối này được đặt tên theo K. F. Schlippe (1799–1867). Natri thioantimoniat được dùng đẻ điều chế "antimon quinsunfua", Sb2S5. Hợp chất này chứa anion tứ diện SbS43- (rSb-S = 2.33 Å) và cation natri, đây là một tinh thể ngậm nước.[1][2] Các muối liên quan được biết là amonikali.

Điều chế[sửa | sửa mã nguồn]

Natri thioantimoniat được điều chế bằng phản ứng của antimon trisunfua, nguyên tố lưu huỳnh và dung dịch chứa ion sunfua.

3 Na2S + 2 S + Sb2S3 + 9 H2O → 2 Na3SbS4 • 9 H2O

Muối sunfua cố thể được tạo ra gián tiếp bằng cách đun nóng lưu huỳnh với kiềm hay thậm chí là than chì:

Sb2S3 + 8 NaOH + 6 S → 2 Na3SbS4 + Na2SO4 + 4 H2O

Ở phương pháp thứ hai, 1 hỗn hợp natri sunfat (16 phần) được khử khi nung với than chì (4-5 phần) có mặt antimon sunfua (13 phần). Chất nóng chảy được đưa vào nước đã được xử lý với lưu huỳnh (4 phần). Lúc dung dịch bay hơi, muối sẽ kết tinh ở dạng tinh thể tứ diện dễ dạng tan vào nước. Muối khan dễ dàng nóng chảy khi đun nóng, và trong điều kiện ngậm nước, khi tiếp xúc với không khí ẩm nó sẽ bị bao phủ một lớp màng màu đỏ.

Antimon(III) sunfua được điều chế theo cách thông thường khi xử lý bất kì hợp chất Sb(III) nào với gốc sunfua:

2 SbCl3 + 3 H2S → Sb2S3 + 6 HCl

Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Muối Schlippes được dùng để tạo ra antimony(V) sunfua, chất được dùng như là bộ khuếch đại trong ngành nhiếp ảnh có dùng bạc, trong diêm dùng làm thành phần gây cháy, và trong việc lưu hoá cao su.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Krebs, B., "Hợp chất Thio- và Seleno của các nguyên tố nhóm chính - Các polyme và oligome vô cơ mới", Angewandte Chemie, 1983, volume 95, pages 113-34.
  2. ^ K. Mereiter, A. Preisinger and H. Guth "Liên kết hiđro trong muối Schlippe: phương pháp tinh vi nghiên cứu cấu trúc tinh thể Na3SbS4.9H2O bằng nhiễu xạ tia X và Na3SbS4.9D2O bằng nhiễu xạ notron ở nhiệt độ phòng" Acta Crystallographica 1979, vol. B35, 19-25. doi:10.1107/S0567740879002442.