Neuro-Linguistic Programming

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Neuro - Linguistic - Programming, là viết tắt là NLP, hay lập trình ngôn ngữ tư duy, lập trình tư duy, lập trình tâm trí. Nó chứa đựng ba thành tố có ảnh hưởng lớn nhất đến việc hình thành những kinh nghiệm cá nhân của mỗi người: thần kinh học, ngôn ngữ học, và các mô thức được lập trình sẵn. Nhiều nhà khoa học kết luận rằng NLP không có cơ sở và xếp vào Giả khoa học.

Khởi nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Vào những năm đầu thập niên 70, nhà ngôn ngữ học John Grinder, và nhà toán học Richard Bandler tiến hành tìm kiếm những công cụ xuất sắc trong việc phát triển tiềm năng bản thân.

Grinder và Bandler đặt ra câu hỏi: "Sự khác biệt giữa một người tương đối thành thạo và một người thật sự vượt trội trong cùng một lĩnh vực là gì?" Họ đưa ra NLP sau khi nghiên cứu.

John Grinder và Richard Bandler – hai giáo sư đại học Santa Cruz (Mỹ) – được xem là những người sáng lập ra NLP để "cải thiện kỹ năng con người thông qua việc tạo ra những mô thức hành động tốt hơn".

Một trong những ý tưởng của NLP là: Nếu một người nào đó làm được việc gì, thì sẽ có khả năng tìm hiểu cách thức họ làm như thế nào và lặp lại nó. Nguyên Lý Mô Phỏng của NLP là một trong những cách tiếp cận độc nhất vô nhị cho việc phát hiện và bắt chước những kỹ năng tiềm thức của những người kiệt xuất (có năng khiếu bẩm sinh) để dạy lại cho những người khác những kỹ năng mà bình thường rất khó có thể học được.

Bandler và Grinder cam đoan rằng NLP giải quyết các vấn đề như sợ ám ảnh (phobia), trầm cảm, rối loạn thói quen, psychosomatic illnesses, và rối loạn học tập. Mục đích của những người sáng lập là "tìm ra cách để làm cho cuộc sống con người tốt đẹp, sung mãn và giàu có hơn." [1][2] Họ tuyên bố rằng nếu những dạng hành vi của những người kiệt xuất có thể mô hình hóa (ví dụ các phẫu thuật gia nổi tiếng), mọi người có thể dễ dàng học được. NLP thậm chí đã được một số nhà trị liệu thôi miên vận dụng trong các buổi hội thảo tiếp thị cho doanh nghiệp và chính phủ.[3][4]

Thiếu cơ sở khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

Cán cân bằng chứng khoa học phát hiện ra NLP chủ yếu là một thứ giả khoa học đầy tai tiếng. Các báo cáo khoa học chỉ ra nó chứa đựng nhiều lỗi về căn cứ,[3][5] và không tạo ra kết quả như những người đề xướng đã cam đoan.[6][7] Theo Clinical Psychologist Grant Devilly (2005),[8] do đó sự phổ biến của NLP đã giảm đi trong như năm 1970. Những lời chỉ trích vượt qua sự thiếu hụt bằng chứng thực nghiệm về tính hiệu quả, cho rằng NLP thể hiện một số tính chất [8], tiêu đề [9], khái niệm và thuật ngữ [10][11] giả khoa học. NLP được dùng như một ví dụ cho giả khoa học và hỗ trợ việc giảng dạy khoa học cơ bản ở cấp độ chuyên môn và đại học.[12][13][14] NLP cũng xuất hiện trong danh sách các phương pháp can thiệp không đáng tin dựa trên sự thống nhất của chuyên gia và được bình duyệt.[6] Trong nghiên cứu được thiết kế để xác định "quack factor" (các phương pháp giả dối, bị phản chứng) trong việc thực hành chữa bệnh tâm lý, Norcross et al. (2006) [11] liệt kê NLP là có thể hoặc hầu như chắc chắn không đáng tin cho việc chữa trị các vấn đề hành vi. Norcross et al. (2010)[15] liệt kê NLP trong tốp mười phương pháp can thiệp mất uy tín nhất và Glasner-Edwards and Rawson (2010) liệt kê NLP là "chắc chắn không đáng tin."[16] Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng NLP không thành công trong việc đạt được những kết quả đáng tin cây đối với những trụ cột của nó.

Đầu những năm 1980, NLP được quảng cáo là một tiến bộ quan trọng trong tâm lý trị liệu và tư vấn, và thu hút một số quan tâm trong nghiên cứu tư vấn và tâm lý học lâm sàng.

Tuy nhiên, khi các thử nghiệm có kiểm soát không cho thấy bất kỳ lợi ích nào từ NLP và những người ủng hộ của nó đã đưa ra những tuyên bố ngày càng đáng ngờ, mối quan tâm khoa học đối với NLP đã phai nhạt.

Nhiều đánh giá tài liệu và phân tích tổng hợp cũng đã không thể đưa ra bằng chứng cho các giả định hoặc hiệu quả của NLP như một phương pháp trị liệu.

Trong khi một số học viên NLP đã lập luận rằng việc thiếu hỗ trợ theo kinh nghiệm là do nghiên cứu NLP không đủ, nhiều ý kiến ​​khoa học đồng thuận là NLP là giả khoa học và nó đang cố gắng bác bỏ những phát hiện nghiên cứu chính thức dựa trên những lập luận này. Họ thừa nhận rằng : "NLP không có cơ sở bằng chứng và các học viên NLP đang tìm kiếm sự tín nhiệm sau đại học."

Các khảo sát trong cộng đồng học thuật đã cho thấy NLP bị mất uy tín rộng rãi trong giới khoa học.

Trong số các lý do để coi NLP là giả khoa học là bằng chứng ủng hộ nó chỉ giới hạn ở giai thoại và lời khai cá nhân, không phải là số liệu thống kê chính xác, ngược với phương pháp khoa học, rằng nó không có cơ sở bởi kiến thức khoa học về khoa học thần kinh và ngôn ngữ học, và cái tên lập trình ngôn ngữ tư duy chỉ là sử dụng các từ biệt ngữ khoa học để gây ấn tượng với người đọc và làm xáo trộn ý tưởng, trong khi bản thân NLP không liên quan đến bất kỳ hiện tượng nào với cấu trúc thần kinh và không có gì chung với ngôn ngữ học hoặc lập trình. Trong thực tế, trong giáo dục, NLP đã được sử dụng như một ví dụ chính của giả khoa học.

Nguyên lý chung[sửa | sửa mã nguồn]

NLP đã được đưa ra để nghiên cứu về cách mỗi cá nhân hành xử theo thói quen như thế nào. Các nhà nghiên cứu ủng hộ cho rắng với NLP, một người có thể học hỏi từ người khác những mô thức nào có ích và phục vụ họ. Sau đó họ có thể luyện tập những mô thức mới cho hành vi của mình (giống như tái lập trình não bộ) nhằm "tiến bộ hơn trong những trường hợp mà trước kia họ đã ứng xử không hiệu quả".

NLP nhằm vào việc thay đổi tận gốc của hành vi, tức thay đổi lối tư duy dẫn đến hành vi. Theo đó, cuộc sống, năng lực cũng như trình độ đều là hệ quả của cách con người suy nghĩ. Việc thay đổi tận gốc vì vậy là điều bắt buộc "nếu một người muốn nâng cao bất cứ kỹ năng nào, hoặc thay đổi các thói quen đã bám rễ". Trong nhiều trường hợp, việc thay đổi này khá dễ dàng và mang lại hiệu quả cao.[17]

Một trong những cơ sở của nó là con người giao tiếp với thế giới bên ngoài thông qua 5 giác quan: thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác, và vị giác. Chúng ta tiếp nhận những tác nhân kích thích từ bên ngoài, và tái tạo lại chúng bên trong não bộ dưới một hình thức khác. Nó được cho rằng việc này hình thành bên trong não bộ mỗi người một thế giới thu nhỏ và chủ quan của riêng họ.

Việc tổng hợp tất cả những gì ta thu nhận từ bên ngoài vào não bộ tạo nên những mô thức hành vi và phản ứng trong các hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống, việc này còn được gọi là "lập trình".

Những người sáng lập ra NLP đã khẳng định rằng, mọi người không phản ứng trực tiếp với thế giới chung quanh. Trước tiên, họ dùng những gì thu nhận được từ thế giới bên ngoài trong quá trình sống và lớn lên của bản thân để "lập trình" cho bộ não của mình, rồi cứ thế mà "hành động" và "phản ứng" (một cách gần như "tự động") theo các chương trình đã được "cài sẵn" đó.

"Lợi ích"[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà sáng lập và nghiên cứu NLP tin rằng: nếu con người có thể sử dụng một cách hiệu quả những nguyên lý và kỹ thuật trong NLP, họ có thể đạt được khả năng giao tiếp đầy nghệ thuật, có được một cuộc sống hạnh phúc, giàu có và mãn nguyện hơn, và đã có nhiều giai thoại khẳng định một số nhân vật thành công nhờ áp dụng NLP. Mặc dù vậy, chưa có đủ bằng chứng thống kê khoa học để biết liệu các hiệu quả này có phải là đáng lưu ý (significant).

Khóa học NLP giúp bạn tìm thấy mục tiêu của bản thân, khơi nguồn cảm hứng và giúp khai phá tiềm năng trong con người bạn. Cụ thể, giá trị bản thân bạn sẽ được nâng cao với việc bước vào thế giới NLP:

  • Bạn sẽ có tư duy thành công của những nhà lãnh đạo xuất chúng
  • Khóa học giúp bạn rút ngắn thời gian bước đến thành công trong sự nghiệp
  • Cải thiện sự nhạy bén của các giác quan để đưa ra những quyết định nhanh chóng và sáng suốt
  • Thấu hiểu được tâm sinh lý (cách suy nghĩ, tính cách, chiến lược ra quyết định) bản thân và người khác. Hiểu được bản thân và người khác sẽ giúp dẫn dắt họ làm theo ý mình mang đến thành công và hạnh phúc.
  • Làm chủ bản thân, cân bằng cảm xúc để giao tiếp, ứng xử và có những hành vi phù hợp
  • Nắm bắt được kỹ năng tạo thiện cảm với người khác
  • Kiểm soát được cảm xúc và tăng cường trí tuệ cảm xúc của bản thân
  • Nắm bắt được nghệ thuật giao tiếp để thuyết phục, đàm phán đạt hiệu quả trong giao tiếp
  • Vượt qua những trở ngại, thách thức, khó khăn trong công việc và cuộc sống
  • Tạo động lực cho bản thân người học, loại bỏ những rào cản tâm lý đang giới hạn bạn, ngăn bạn đến thành công để đạt được những mục tiêu sự nghiệp
  • Củng cố cấu trúc tư duy thành công và giúp bạn nhận thức được sâu sắc hơn về những động lực của chính mình
  • Kỹ năng huấn luyện lại cho người khác ứng dụng những giá trị đã học được.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ From the book jacket of Bandler and Grinder (1975) Vol. 2.
  2. ^ Trong một hội thảo, Bandler & Grinder (1981, p. 166) tuyên bố rằng chỉ một buổi NLP kết hợp với thôi miên có thể loại bỏ các vấn đề thị lực như cận thị và chữa khỏi cúm thông thường (op.cit., p. 174)...(cũng op.cit., p. 169) Bandler và Grinder tin rằng, bằng cách kết hợp NLP với hypnotic regression (nhớ lại kiếp trước bằng cách thôi miên), không những có thể chữa bệnh mà còn có thể quên đi hẳn sự tồn tại của căn bệnh đó. Vì thế sau một buổi "trị liệu", một người hút thuốc chối rằng mình chưa từng hút thuốc, thậm chí cả khi gia đình và bạn bè khẳng định điều người lại, không thể hiểu được các bằng chứng như muội ni-cô-tin. – Grinder, John.; Richard Bandler; Connirae Andreas (ed.) (1981). Trance-Formations: Neuro-Linguistic Programming and the Structure of Hypnosis. Moab, UT: Real People Press. ISBN 0-911226-23-0.
  3. ^ a ă doi: 10.1002/hrdq.3920080403
    Hoàn thành chú thích này
  4. ^ doi:10.1108/13620439610111408
    Hoàn thành chú thích này
  5. ^ doi:10.1111/j.1559-1816.2004.tb01975.x
    Hoàn thành chú thích này
  6. ^ a ă doi:10.2478/v10059-010-0008-0
    Hoàn thành chú thích này
  7. ^ doi:10.1037/0022-0167.34.1.103
    Hoàn thành chú thích này
  8. ^ a ă doi: 10.1111/j.1440-1614.2005.01601.x
    Hoàn thành chú thích này
  9. ^ Corballis, MC., "Are we in our right minds?" In Sala, S., (ed.) (1999), Mind Myths: Exploring Popular Assumptions About the Mind and Brain Publisher: Wiley, John & Sons. ISBN 0-471-98303-9 pp. 25–41 (see p. 41)
  10. ^ Stollznow, K. (2010). “Bad language: Not-so Linguistic Programming”. Skeptic 15 (4): 7. 
  11. ^ a ă doi:10.1037/0735-7028.37.5.515
    Hoàn thành chú thích này
  12. ^ Lum.C (2001). Scientific Thinking in Speech and Language Therapy. Psychology Press. tr. 16. ISBN 0-8058-4029-X. 
  13. ^ doi:10.1207/S15328023TOP2803_03
    Hoàn thành chú thích này
  14. ^ Dunn D, Halonen J, Smith R (2008). Teaching Critical Thinking in Psychology. Wiley-Blackwell. tr. 12. ISBN 978-1-4051-7402-2. 
  15. ^ doi:10.1097/ADM.0b013e3181c5f9db
    Hoàn thành chú thích này
  16. ^ doi:10.1016/j.healthpol.2010.05.013
    Hoàn thành chú thích này
  17. ^ Trần Đăng Khoa. “Giới thiệu tổng hợp về NLP (Lập Trình Ngôn Ngữ Tư Duy)”. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2012.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)

Xem Thêm[sửa | sửa mã nguồn]