Giả khoa học

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lịch sử khoa học
Nền tảng
học thuyết/xã hội học
Thuật chép sử
Giả khoa học
Theo thời kỳ
Các nền văn hóa cổ
Thời kỳ cổ đại
Thời Trung cổ
Thời Phục Hưng
Theo chủ đề
Sinh thái học
Địa lý học
Cổ sinh vật học
Phép tính
Combinatorics
Logic
Thống kê
Lượng giác
Khoa học xã hội
Nhân loại học
Kinh tế
Ngôn ngữ học
Khoa học chính trị
Tâm lý học
Xã hội học
Công nghệ
Khoa học nông nghiệp
Khoa học máy tính
Khoa học vật liệu
Y học
Các trang định hướng
Timelines
Portal

Giả khoa học hay ngụy khoa học là một loại hình của các kiến thức hay các quy trình nào đó, mà nói chung không được giới khoa học công nhận là một môn khoa học do không đáp ứng được các nguyên tắc khoa học cơ bản, đồng thời nó luôn cố gắng tự chứng tỏ đó là môn khoa học. Nguyên tắc đó là khả năng kiểm chứng bằng các phương pháp khoa học.

Một số các biểu hiện của nó là việc giả khoa học sử dụng ngôn ngữ của khoa học, các lý thuyết không được xây dựng bằng nghiên cứu khoa học, các lý thuyết trong một vấn đề có thể trái ngược lẫn nhau, có những trường hợp có thể có xung đột với các lý thuyết khoa học.

Ranh giới[sửa | sửa mã nguồn]

Ranh giới giữa khoa học và giả khoa học là vấn đề hay được nhắc đến trong triết lý khoa học, xoay quanh các cơ sở của các quy tắc khoa học. Thuật ngữ giả khoa học (tiếng Anh: pseudoscience) đã mang định nghĩa tiêu cực và người trong giới, mà khoa học gọi là giả khoa học, luôn phản đối cách xếp loại này.

Một học thuyết có thể bị coi là giả khoa học trên nhiều nguyên nhân khác nhau. Ví dụ Karl Popper, triết gia chủ nghĩa duy lý phê phán cho rằng chiêm tinh học là giả khoa học chỉ bởi ngôn ngữ của chiêm tinh học quá lắt léo, bất định. Trong khi đó Paul R. Thagard ủng hộ xếp loại này, nhưng vì các nhà chiêm tinh học gần như không cố gắng phát triển học thuyết của mình, không thèm quan tâm đến các phê bình của người khác và vì cách nhìn nhận sự kiện một cách thiên vị.

Một số các học thuyết được đa số công nhận là giả khoa học như: chiêm tinh học, liệu pháp vi lượng đồng căn (homeopathy), học thuyết Trái Đất rỗng (hollow Earth), Khoa luận giáo (scientology).

Kiểm chứng khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ sở để tiến hành công tác khoa học là tương tác giữa các bước sau, mà giới giả khoa học không tuân thủ:

  • quan sát, miêu tả sự việc
  • thể hiện vấn đề
  • phán đoán vấn đề
  • sàng lọc các phán đoán trên cơ sở logic
  • kiểm chứng

Nhận biết[sửa | sửa mã nguồn]

Một học thuyết gọi là giả khoa học, nếu nó muốn biểu hiện như một môn khoa học và nó không có cơ sở khoa học.

Các biểu hiện chính của các phái giả khoa học là:

  • Sử dụng các kết luận nước đôi, bất định, phóng đại và không có chứng cứ
  • Dùng quá độ các nhận định và quan tâm đến khả năng phủ định
  • Tự cô lập đối với các kiểm nghiệm
  • Không phát triển đúng mức
  • Cố ý đưa đẩy các khúc mắc của học thuyết thành vấn đề cá nhân

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Nate Silver , nhà thống kê học nổi tiếng thế giới: Giả khoa học hay còn gọi là Khoa học ngụy ngôn ra phát triển mạnh khi Gutenberg cho ra đời máy in vào năm 1440