Ngựa Xích Thố

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ngựa xích thố

Ngựa Xích Thố là một con ngựa nổi tiếng của Lã Bố cuối thời Đông Hán.

Trong sử sách[sửa | sửa mã nguồn]

Xích Thố được nhắc đến trong tiểu sử của Lữ Bố trong Tam Quốc Chí của Trần ThọHậu Hán Thư của Phạm Diệp. Vào năm 193, Lữ Bố đã cưỡi con ngựa này khi giúp Viên Thiệu đánh bại Trương Yên. Xích Thố được cho là chạy nhanh, có thể nhảy qua hào. Trong Tào Man Truyện cũng có nhắc đến Xích Thố với câu: "Người có Lữ Bố, ngựa có Xích Thố".

Sử sách không nhắc đến chuyện Xích Thố có chủ nào khác ngoài Lữ Bố. Không rõ sau khi Lữ Bố chết, con ngựa này nếu còn sống thì đã về tay ai.

Trong văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung, ngựa Xích Thố ban đầu của Đổng Trác, sau đó Đổng Trác tặng lại cho. Con ngựa này dài một trượng, cao tám thước, màu đỏ rực như lửa, tuyệt không có một sợi lông tạp, ngày đi ngàn dặm, trèo non vượt suối dễ dàng. Lúc Lã Bố chết, nó được Tào Tháo cho người chăm sóc, sau trao lại cho Quan Công (Quan Vũ). Quan Vũ cưỡi ngựa Xích Thố qua năm cửa ải chém sáu tướng (chuyện không có thật).

Khi Tào Tháo tặng ngựa Xích Thố cho Quan Vũ, Quan Vũ nhận ngựa xong liền phục lạy tạ ơn. Tháo đã phải ngạc nhiên nói:

Sau khi Quan Vũ bị bắt và chặt đầu, bộ tướng của Phan ChươngMã Trung được ban cho Xích Thố, nhưng con ngựa này bỏ ăn rồi chết.

Thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Quan Công mất thì nó cũng mất theo ông, người đời có một bài thơ để lại như sau:

Ngàn dặm mù bay tịt nẻo xa
Trèo non vượt nước khéo xông pha
Chặt đứt dây cương rung chuông ngọc
Rồng đỏ trên trời hẳn mới sa
Trong truyện Tam Quốc cũng có 2 câu đối nhắc tới ngựa Xích Thố:

theo bản dịch của Phan Kế Bính:

Trong sử sách không có nơi nào ghi mặt Quan Vũ màu đỏ, hay việc Quan Vũ từng cưỡi ngựa Xích Thố. Ngay cả Thanh Long Đao cũng không có thật, và loại vũ khí tương tự chỉ bắt đầu được sử dụng từ thời nhà Tống.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chỉ Lưu Bị
  2. ^ Sử vào thời Tam Quốc vẫn còn được ghi trên các thẻ tre mặt ngoài xanh, vì vậy các sách sử thường được gọi là thanh sử - sử xanh