Nhà Wittelsbach

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhà Wittelsbach
Wappen Deutsches Reich - Koenigreich Bayern (Grosses).png
Quốc gia Banner of the Holy Roman Emperor with haloes (1400-1806).svg Đế quốc La Mã Thần thánh
Flag of the Kalmar Union.svg Kalmar Union
Flag of Bavaria (striped).svg Vương quốc Bayern
State Flag of Greece (1833-1858).svg Vương quốc Hy Lạp
Tước hiệu Công tước Bayern
Tuyển hầu tước Bayern
Vua Bayern
Tuyển hầu tước Pfalz
Tuyển hầu tước Köln
Hoàng đế La Mã Thần thánh
Vua La Mã Đức
Vua Đan Mạch
Vua Thụy Điển
Vua Na Uy
Vua Hy Lạp
Người sáng lập Otto I
Quốc chủ cuối cùng Ludwig III
Người đứng đầu hiện nay Franz của Bayern
Năm thành lập Thế kỷ 11
Phế truất 7 tháng 11 1918
Các nhánh Nhà Pfalz-Simmern,
Nhà Pfalz-Sulzbach,
Nhà Pfalz-Neumarkt,
Nhà Pfalz-Zweibrücken,
Nhà Pfalz-Birkenfeld
Dân tộc Đức

Nhà Wittelsbach là một hoàng tộc Âu châu lâu đời nhất và là một triều đại ĐứcBayern. Xuất phát từ nhà này là các bá tước, công tước, tuyển hầu tước và vua của Bayern (1180–1918), cũng như các công tước Kurpfalz (1214–1803 và 1816–1918), mà cũng là tuyển hầu tước của Đế quốc La Mã Thần thánh. Nhánh Pfalz cũng có công tước của Jülich-Berg (1614–1794/1806).

Là một trong những hoàng tộc quan trọng nhất trong nhà Wittelsbach cũng có người làm vua của Hungary (1305), Thụy Điển (1441–1448 và 1654–1720), Đan Mạch và Na Uy (1440), Hy Lạp (1832–1862) và 3 lần là vua La Mã Đức (1328/1400/1742), trong đó có 2 hoàng đế, 2 người cùng là vua của Böhmen (1619/1742), nhiều tuyển hầu tước, tổng giám mục của Köln (1583–1761), Giám mục von Lüttich, Bá tước von Brandenburg (1323–1373), von Tirol, von Hà Lan, Hennegau và Seeland (1345–1432) cũng như công tước của Bremen-Verden (1654–1719).

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc chính xác của nhà Wittelsbach vẫn chưa được kiểm chứng. Một giả thuyết đáng tin tưởng là dòng họ Wittelsbach là một nhánh của nhà Luitpoldinger, đặt tên theo bá tước Luitpold von Bayern († 907). Giả thuyết mà ngày nay được các thành viên dòng dõi này và nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận, được nam tước Otto von Dungern, một nhà nghiên cứu gia phả hoàng tộc, công bố ở Áo vào năm 1931, theo đó nhà này bắt đầu vào khoảng năm 1000 với một công tước tên là Otto I. von Scheyern.

Bayern và Pfalz trong đế quốc La Mã Thần thánh[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh thổ Wittelsbach trong đế quốc La Mã Thần thánh (Bayern, Hà Lan và Pfalz) năm 1373      Wittelsbach, bên cạnh nhà      Luxembourg mà đã mua được Brandenburg vào năm đó và nhà      Habsburg mà đã mua Tirol năm 1369

Triều đại Wittelsbach cai trị lãnh thổ Đức ở Bayern từ 1180 cho tới 1918 và tuyển hầu quốc Pfalz từ 1214 cho tới 1805; vào năm 1815 một phần của Pfalz gọi là Rheinpfalz nhập vào Bayern, mà Napoleon nâng lên thành vương quốc vào năm 1806.

Khi công tước Otto II chết vào năm 1253, các con của ông ta đã chia lãnh thổ với nhau: Henry XIII trở thành công tước của Niederbayern, và Ludwig II công tước của Bayern và Pfalz. Khi nhánh nhà Henry tuyệt giống vào năm 1340 hoàng đế Ludwig IV, con của Ludwig II, đã thống nhất công quốc này.

Nhánh Bayern[sửa | sửa mã nguồn]

Nhánh Bayern cai trị công quốc Bayern cho tới khi họ tuyệt giống vào năm 1777.

Tuyển hầu quốc Bayern (đỏ) trên bản đồ của đế quốc La Mã Thần thánh 1648

Hoàng đế La Mã Thần thánh nhà Wittelsbach Ludwig IV đã mua vùng Brandenburg (1323), Tirol (1342), Hà Lan, ZeelandHennegau (1345) nhưng đã nhường Oberpfalz cho nhánh Pfalz Wittelsbach vào năm 1329. Khi ông mất năm 1347, 6 người con của ông ta ban đầu cai trị chung lãnh thổ, sau đó chia ra theo thỏa thuận Landsberg năm 1349: Stephan II., Wilhelm I. und Albrecht I. được chung Niederbayern, Wilhelm và Albrecht ngoài ra được các lãnh thổ Hà Lan, ZeelandHennegau. Đến ngày 3 tháng 6 1353 theo thỏa thuận Regensburg, Stephan II được vùng phía nam của Niederbayern với thủ phủ Landshut, trong khi Wilhelm und Albrecht được Straubing.

Đất đai của nhánh Bayern như vậy từ năm 1353 được chia làm 3 lãnh thổ:

  • Straubing-Holland được cai trị bởi Wilhelm I. und Albrecht I.
  • Niederbayern-Landshut thuộc quyền của Stephan II.
  • Oberbayern-Tirol und Brandenburg là lãnh thổ của Ludwig V, Ludwig VI, và Otto V

Nhà Wittelsbach mất Tirol với cái chết của công tước Meinhard III con của Ludwig V. Theo hòa ước Schärding, Tirol cuối cùng được trả lại cho nhà Habsburg vào năm 1369. In 1373 Otto V người cuối cùng nhà Wittelsbach cai trị Brandenburg, đã bán lại lãnh thổ này cho nhà Luxembourg. Khi công tước Albert I mất vào năm 1404, con trai ông, William VI lên năm quyền. Một người con trai khác, John III trở thành giám mục của Liège. Khi William mất năm 1417, một chiến tranh nối ngôi đã bùng nổ giữa John và con gái William, Jacqueline của Hennegau. Sau đó lãnh thổ này rơi vào tay nhà Burgund vào năm 1432.

Năm 1363 khi công tước Meinhard mất, Stephan II được phần đất Oberbayern. Khi Stephan II qua đời vào năm 1375, phần đất của ông ta được 3 người con trai Johann II, Stephan III và Friedrich cùng nhau cai trị. Sau những tranh cãi giữa 3 anh em, 1392 lãnh thổ này lại được chia ra làm 3: Johann II được Bayern-München, Stephan III Bayern-Ingolstadt và Friedrich Bayern-Landshut.

Năm 1505 sau cuộc chiến tranh dành ngôi ở Landshut, Albrecht IV der Weise công tước của Bayern-München đã thống nhất được cả 3 phần lãnh thổ.

Được giáo dục theo Công giáo một cách nghiêm khắc, các công tước Bayern trở thành những lãnh tụ của Phong trào Phản Cải cách Đức. Từ 1583 cho tới 1761, những công tử nhánh Bayern trở thành tổng giám mục của Köln và nhiều giám mục khác của đế quốc La Mã Thần thánh như giám mục của Liège (1581-1763), Regensburg, Freising, Münster, Hildesheim, Paderborn, Osnabrück.

Vào năm 1623 từ Maximilian I, các công tước Bayern trở thành tuyển hầu tước, như vậy từ đó Bayern là một tuyển hầu quốc. Cháu nội của ông ta, Maximilian II cũng là thống đốc của Habsburg Hà Lan (1692–1706) và công tước của Luxembourg (1712–1714). Và con của Maximilian II, hoàng đế Karl VII cũng là vua của Bohemia (1741–1743). Với cái chết của người con của Karl VII, Maximilian III, tuyển hầu tước của Bayern, nhánh Bayern tuyệt gốc vào năm 1777. Lên nối ngôi là Karl Theodor (Pfalz và Bayern) thuộc nhánh Pfalz-Sulzbach, mà cũng đã cai trị Kurpfalz. Sau cái chết của Karl Theodors 1799 các công tước của Zweibrücken trở thành tuyển hầu tước.

Danh sách các nhánh nhà Wittelsbach[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhánh Bayern

Bayern Chia lần đầu 1255
Oberbayern nhánh xưa Niederbayern nhánh xưa cho tới 1340
Chia theo thỏa thuận Landsberg 1349
Oberbayern
nhánh mới, cho tới 1363/79
Niederbayern nhánh mới, chia 1353
Niederbayern-Landshut Straubing-Holland
chấm dứt 1425,
gia tài Erbe bị chia ra 1429 theo
Teilung 1392
Bayern-München Bayern-Ingolstadt Bayern-Landshut
Preßburger Schieds spruch
1447 được thừa hưởng bởi Bayern-Landshut
1503/5 được thừa hưởng bởi Bayern-München
1777 được thừa hưởng bởi Pfalz-Sulzbach

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]