Nhãn thông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bản mẫu:Infobox paranormal term Bản mẫu:Siêu linh

Thuật ngữ nhãn thông, thần nhãn, thấu thị hay minh trí. Từ này trong tiếng Anhclairvoyance, bắt nguồn từ tiếng Pháp clair nghĩa là clear (rõ ràng), voyance nghĩa là vision (tầm nhìn), để chỉ khả năng có được thông tin về một đối tượng, người, địa điểm hoặc sự kiện vật lý thông qua các phương tiện khác thay vì các giác quan thông thường đã được biết,[1][2], một dạng của ngoại cảm. Nhãn thông được định nghĩa bởi nhà thần triết (theosophist) Charles Webster Leadbeater (C. W. Leadbeater) theo giả thuyết thông thái về sự tạo lập vũ trụ có tên gọi Thuyết thần trí[3].

Phân biệt[sửa | sửa mã nguồn]

Nhãn thông được chia làm một số loại

  1. Âm dương nhãn - thông thường trải qua tu luyện hoặc gặp biến cố trong đời sẽ tự khai mở (gặp đại họa không chết ắt có phúc về sau). Mắt này nhìn được 2 cõi âm và dương.
  2. Thiên nhãn - Nhãn này có được thông qua tu luyện tiên thuật hoặc đã mở được âm dương nhãn và cầu tiến làm nhiều việc đại thiện mà mở được. Mắt này nhìn được cả quỷ thần (Âm dương nhãn chưa chắc nhìn được loại quỷ tu luyện nhiều năm). Nhãn này rất ít người có, nếu có họ cũng là chân nhân, thoát ly với đời (thiên cơ bất khả lộ).
  3. Pháp nhãn - đây là loại nhãn của các la hán, bồ tát. Trong kinh Phật thuyết có nói đó thông thường là khai ngộ đến cảnh giới khác, đạt được các quả vị (Quả vị la hán, quả vị bồ tát...) Người có mắt này cực kì hiếm và hầu như vượt ra khỏi tam giới, ngũ hành. Qua khứ có các vị la hán và bồ tát. Họ nhìn thấu rõ tam giới, các tầng dưới quả vị và ngang quả vị của họ.
  4. Phật nhãn - đây là loại nhãn của các vị Giác ngộ (Phật, Như Lai). Những vị này thấu rõ mọi chuyện trong trời đất là nhờ vào nhãn này. Thấu hiểu tất cả, giảng giải tất cả.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]