Nhũ chấp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nhũ chấp
Định danh
FMA 62961
Thuật ngữ giải phẫu
Dạ dày đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhũ chấp.

Nhũ chấp hoặc nhũ trấp là dạng bán lỏng của khối thức ăn bị tiêu hóa một phần ở dạ dày và được đẩy xuống qua van môn vị, vào tá tràng[1] (phía đầu ruột non).

Nhũ chấp có được là kết quả từ sự phân giải cơ học và hóa học của viên thức ăn (bolus). Nhũ chấp có thể chứa một phần thức ăn được tiêu hóa, nước, axit clohydric và các enzyme tiêu hóa khác nhau. Nhũ chấp đi từ từ qua cơ vòng môn vị và vào tá tràng, nơi việc hấp thụ các chất dinh dưỡng sẽ bắt đầu. Tùy thuộc vào lượngchất của bữa ăn, dạ dày sẽ tiêu hóa thức ăn thành nhũ chấp trong khoảng từ 40 phút cho đến vài giờ.

Với độ pH chỉ khoảng 2, nhũ chấp khi vừa đi ra từ dạ dày rất axit. Vì vậy nên, tá tràng tiết ra một hormone, cholecystokinin (CCK), giúp làm co túi mật, giải phóng dịch mật với tính kiềm vào tá tràng. CCK cũng gây ra sự giải phóng các enzyme tiêu hóa từ tuyến tụy. Tá tràng là một phần ngắn của ruột non nằm giữa dạ dày và phần còn lại của ruột non. Tá tràng cũng sản xuất hormone tiết ra để kích thích tiết dịch tụy chứa lớn natri bicarbonate, nhờ vậy làm tăng độ pH của nhũ chấp đến 7. Sau đó, nhũ chấp di chuyển qua hồng tràng và hồi tràng, nơi quá trình tiêu hóa tiếp tục và những phần không sử dụng sẽ tiếp tục đi tiếp vào ruột già (đại tràng). Tá tràng được bảo vệ bởi một lớp niêm mạc dày và nhờ hoạt động trung hòa của natri bicarbonate và mật nên không bị nhũ chấp axit gây tổn thương.

Ở độ pH 7, các enzyme có từ dạ dày không còn hoạt động nữa. Điều này khiến phần chất dinh dưỡng còn lại sẽ được phân giải tiếp tục bởi các vi khuẩn kỵ khí, và cùng một lúc giúp "gói" phần còn lại. Những vi khuẩn này cũng giúp tổng hợp vitamin Bvitamin K, sẽ được hấp thụ cùng với các chất dinh dưỡng khác.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]