Nhật ký tương lai (manga)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nhật ký tương lai
Mirainikkicover.jpg
Hình bìa Mirai Nikki tập 1
未来日記
(Mirai Nikki)
Thể loại Hành động
Kinh dị
Lãng mạn
Tâm lý
Gay cấn
Manga
Tác giả Esuno Sakae
Nhà xuất bản Kadokawa Shoten
Đối tượng Shōnen
Tạp chí Shōnen Ace
Đăng tải 26 tháng 7 năm 200626 tháng 4 năm 2011
Số tập 12 (danh sách tập)
Manga
Mirai Nikki Mosaic Keshi
Tác giả Esuno Sakae
Minh họa Takeuchi Motoki
Nhà xuất bản Kadokawa Shoten
Đối tượng Shōnen
Tạp chí 4-koma Nano Ace
Shōnen Ace
Số tập 1
Anime truyền hình
Đạo diễn Hosoda Naoto
Kịch bản Takayama Katsuhiko
Hãng phim Asread
Kênh gốc Chiba TV
Phát sóng ngày 31 tháng 5 năm 2013
Phim truyền hình
Mirai Nikki - Another: World -
Đạo diễn Namiki Michiko, Miyaki Shogo
Sản xuất Fujino Ryota
Kịch bản Kuwamura Sayaka, Hayafune Kaeko
Âm nhạc Fukuhiro Shuichiro
Kênh gốc Fuji TV
Phát hành 21 tháng 4, 2012 30 tháng 6, 2012
Số tập 11
Chủ đề Anime và manga

Nhật ký tương lai (未来日記 Mirai Nikki?, vị lai nhật ký) là tên một bộ manga 12 tập của Esuno Sakae, định kỳ trên Shōnen Ace (Kadokawa Shoten) từ 2006 đến 2011. Manga đã được chuyển thể thành một series anime 26 tập phát sóng trên Chiba TV và một phim truyền hình dài 11 tập chiếu trên Fuji TV.

Truyện có 2 ngoại truyện lần lượt là Mirai Nikki: MosaicMirai Nikki: Paradox. Ngoại truyện Mosaic kể những tình tiết chưa được tiết lộ trước đó, còn Paradox lại kể về Akise Aru và Murmur ở một chiều không gian khác.

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Amano "Yukki" Yukiteru là một học sinh sống khép kín. Cậu có một thói quen là ghi chép mọi sự việc vào điện thoại của mình và nói chuyện với người bạn tưởng tượng của mình là Deus ex Machina. Cuộc sống của cậu cứ thế trôi qua nếu không có một ngày Deus bước ra khỏi trí tưởng tượng của Amano và biến cậu thành một người sở hữu nhật ký có khả năng dự đoán tương lai trong cuộc chiến sinh tử giành ngôi Chúa tể với mười một người khác. Trong cuộc chiến đó, chỉ có Gasai Yuno đứng về phía cậu nhưng những sự việc tiếp theo dần hé lộ ra những sự thực kinh khủng khác. Gasai Yuno chính là người sở hữu thứ 2 và về sau, cô chính là kẻ thù lớn nhất của cậu, nhưng cũng là người yêu cậu nhất. Cuối cùng, trải qua bao đắng cay, Amano rời khỏi thế giới ước mơ để cứu Yuno ở thế giới thứ nhất. Yuno đã tự tử để Yukiteru thành chúa tể. Làm chúa tể hơn 10 000 năm, Yukiteru vẫn không bao giờ quên được Yuno. Cậu đã nói rằng thế giới không có Yuno là vô nghĩa. Đột nhiên nhật ký tương lai của cậu thay đổi, xóa đi mục nhập tuyên bố rằng ''Yuno đã tự tử'' và viết lại ''Yuno đã đến thăm''. Sau đó, Yuno, người mà Yukiteru yêu đã tái sinh trong cơ thể Yuno của thế giới thứ ba. Yuno trở nên khôn ngoan và tử tế hơn nhưng cảm thấy có điều gì đó đã mất trong cuộc đời cô. Cô đã luôn chú ý dõi theo Yukiteru trong một thời gian vì cậu có vẻ kỳ lạ giống cô ấy. Không may cho Yuno khi kế hoạch của cô luôn bị ngăn chặn bởi Akise Aru và trợ lý của anh, Houjou Reisuke. Cô luôn suy nghĩ sâu sắc về người đã đi qua cuộc đời cô. Nhưng sau đó, cô đã lấy lại ký ức của mình và nhớ ra tình yêu dành cho Yukiteru. Vì vậy, cô đã phá vỡ không gian và thời gian bằng một cây búa và đoàn tụ với ''Yuuki'' yêu quý của cô. Ngay sau đó, Deus của thế giới thứ ba tuyên bố Yuno và Yukiteru là hai người thừa kế của mình. Hai người cuối cùng đã hoàn thành lời hứa của họ để đi ngắm sao cùng nhau.

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Người giữ nhật kí[sửa | sửa mã nguồn]

  • Yukiteru Amano (天野 雪 輝Amano Yukiteru) (Thứ nhất)

Lồng tiếng bởi: Misuzu Togashi[1] (tiếng Nhật), Josh Grelle[2] (tiếng Anh)

Nhân vật nam chính của series và người sở hữu nhật ký đầu tiên. Thường được gọi bằng cái tên Yuki (ユッキー Yukkī). Cậu là một nam sinh 14 tuổi ít nói và không giao tiếp với xã hội nhiều. Cậu ta thường xem những người xung quanh là vật cản và thường hay viết những suy nghĩ đó vào nhật ký trên điện thoại. Bố mẹ cậu đã ly dị, mặc dù họ đã hứa là sẽ đi ngắm sao cùng nhau. Yuki bị lôi vào trò chơi Nhật ký khi nhận ra Deus, vị thần cậu nghĩ rằng chỉ do cậu tưởng tượng ra, lại là thật và đã chọn cậu để trở thành một trong 12 người tham gia trò chơi sống còn. Mỗi người phải tìm giết những người khác và người cuối cùng sống sót sẽ trở thành người thừa kế của Deus. Nhật ký của Yuki được gọi là Nhật ký Ngẫu nhiên (無差別日記 Musabetsu Nikki?), ghi lại tất cả mọi thứ từ góc nhìn của cậu. Tuy nhiên, do phụ thuộc vào góc nhìn và suy nghĩ của cậu nên Yuki đôi khi sẽ bị lừa bởi chính suy nghĩ của mình, điều bất lợi duy nhất xảy ra với người nắm giữ Nhật ký Ngẫu nhiên.

  • Yuno Gasai (我 妻 由 乃Gasai Yuno) (Thứ hai)

Lồng tiếng bởi: Tomosa Murata (tiếng Nhật), Brina Palencia (tiếng Anh)

Nhân vật nữ chính của series và là người sở hữu nhật ký thứ hai. Thông minh, xinh đẹp, hòa đồng, cô là một học sinh gương mẫu trong trường và được bạn bè quý mến, nhưng không ai biết được rằng cô mắc chứng cuồng Yuki và là một kẻ bám đuôi. Cô cuồng cậu ta đến mức sẵn sàng làm hại hoặc giết bất cứ ai dám rớ đến Yuki và rất ghen tị khi ai đó ngoài cô ra dám tỏ ra thân thiết với Yuki. Cô cũng cuồng cậu ta đến mức thứ duy nhất cô quan tâm là mình và Yuki sống sót trong trò chơi này. Nhật ký của cô là Nhật ký Yukiteru (雪輝日記 Yukiteru Nikki), một loại nhật ký bám đuôi cho cô biết chi tiết những gì Yuki đang làm trong vòng 10 phút tới. Và vì bởi nó chỉ tập trung vào Yuki nên nhật ký này không có ích lợi gì trong trò chơi cả trừ khi nó dùng với Yuki. Nhưng nếu kết hợp với nhật ký của Yuki thì sẽ là một bộ công cụ hoàn hảo.

  • Takao Hiyama (火山 高夫Hiyama Takao) (Thứ ba) Lồng tiếng: Jin Domon (Nhật), Jason Douglas (Anh) Người sở hữu nhật ký thứ ba. Takao là giáo viên của Yuki và đồng thời cũng là một tên giết người hàng loạt mặc một chiếc áo choàng chống đạn và đội nón lẫn mang mặt nạ để giấu đi thân phận thật của mình. Nhật ký của Takao là Nhật ký Sát nhân (殺人日記 Satsujin Nikki) cung cấp thông tin về nạn nhân kế tiếp và nơi lẫn cách thức mà ông ta sẽ giết họ. Tuy nhiên, mặc dù nhật ký đó nói cho ông ta biết cách để bắt và không cho nạn nhân trốn thoát, nó lại không cho ông ta biết phải làm gì nếu nạn nhân đánh lại, do đó ông ta rất dễ bị hạ gục ngay.
  • Keigo Kurusu (来 須 圭 悟Kurusu Keigo) (Thứ tư) Lồng tiếng: Masahiko Tanaka (Nhật), Robert McCollum (Anh) Người sở hữu nhật ký thứ tư. Keigo là một công chức cảnh sát được chọn vào trò chơi Nhật ký để cân bằng lại một trò chơi chỉ có những kẻ xấu tham gia. Bình tĩnh, nhanh trí và thông minh, Keigo không hề có hứng thú với trò chơi mà chỉ muốn dừng nó lại trước khi có người bị thương và sau đó trở thành đồng minh của Yuki. Nhật ký của anh là Nhật ký Điều tra (捜査日記 Sōsa Nikki), cung cấp thông tin những vụ án sẽ xảy ra trong vòng 90 ngày tới, nhưng nó không thể cung cấp chi tiết về những vụ án được xử lý bởi một người khác ngoài anh ta ra.
  • Reisuke Houjou (豊 穣 礼 佑Hōjō Reisuke) (Thứ năm) Lồng tiếng: Asami Sanada (Nhật), Lindsay Seidel (Anh) Người sở hữu nhật ký thứ năm. Reisuke là một cậu bé 4 tuổi trông rất vô hại, rất thông minh và xảo quyệt. Nhật ký của cậu là Nhật ký Siêu nhìn (はいぱーびじょんだいありー Haipā Bijon Daiarī), một cuốn nhật ký dạng sách tô màu có thể cho cậu biết những hoạt động cậu sẽ làm trong ngày. Tuy nhiên, nó chỉ có thể hiện ra những hoạt động vào 3 buổi sáng trưa và tối.
  • Tsubaki Kasugano (春日 野 椿Kasugano Tsubaki) (Thứ sáu) Lồng tiếng: Eri Sendai (Japanese), Katherine Bristol (English) Người sở hữu nhật ký thứ sáu. Một cô gái yếu đuối với thị lực kém, là lãnh đạo của giáo phái Omekata (御目方教 Omekata Kyō) nơi cô ấy làm việc như một giáo chủ. Cuộn giấy cô thường mang theo mình thật ra là một cuốn Nhật ký tương lai gọi là Nhật ký Khai sáng (千里眼日記 Senrigan Nikki) thứ cho cô biết những gì mà những thành viên trong hội của cô thấy được. Tuy nhiên, nhật ký của Tsubaki cũng rất dễ bị vô hiệu hóa trong việc bảo vệ chủ nhân, nếu những thành viên trong hội bị điều khiển hoặc gây rối. Hơn nữa, cô ta rất sợ những kẻ ngoài trà trộn vào.
  • Marco Ikusaba (戦 場 マ ル コIkusaba Maruko) và Ai Mikami (美 神 愛Mikami Ai) (Thứ bảy) Lồng tiếng Marco: Tomokazu Seki (Nhật), Brad Hawkins (Anh) Lồng tiếng Ai: Natsuko Kuwatani (Nhật), Jamie Marchi (Anh) Tuy thường hay bị nhầm thành hai người sử dụng nhật ký khác nhau, nhưng họ lại cùng là nguời sở hữu nhật ký thứ 7. Nhật ký của Marco là Nhật ký Bất khả chiến bại (常勝無敗ケンカ日記 Jōshō Muhai Kenka Nikki) cho phép anh ta biết được những đòn tấn công sắp tung tới, còn của Ai là Nhật ký Tán tỉnh (逆ナン日記 Gyaku-nan Nikki) cung cấp thông tin của những người mà cô ấy muốn tán tỉnh trong tương lai. Nhật ký chung của hai người là Nhật ký Trao đổi (交換日記 Kōkan Nikki) cho biết tương lai gần xảy ra với đối phương.
  • Kamado Ueshita (上下 か ま どUeshita Kamado) (Thứ tám) Lồng tiếng: Hiromi Konno (Nhật), Monica Rial (Anh) Người sở hữu nhật ký thứ 8. Một người phụ nữ to con điều hành trại mồ côi “Nhà của Mẹ” nơi Marco, Ai và Orin được nuôi lớn. Nhật ký của bà, Nhật ký Blog (増殖日記 Zōshoku Nikki) là một máy chủ ban phát những nhật ký phụ khác, như nhật ký riêng của Marco và Ai. Bà không hề có hứng thú trong trò chơi, nhưng những đứa trẻ bà nuôi thì sẽ làm mọi thứ để giúp bà thắng.
  • Minene Uryū (雨 流 み ね ねUryū Minene) (thứ chín) Lồng tiếng: Mai Aizawa (Nhật), Emily Neves (Anh) Nhân vật nữ chính thứ hai trong series, người sở hữu Nhật ký thứ chín và là nhân vật chính trong ngoại truyện Mirai Nikki: Mosaic. Một kẻ khủng bố vô thần khét tiếng, Minene là một cô gái trẻ người chống đối những tổ chức thờ Chúa. Nỗi căm ghét những tổ chức đó bắt nguồn từ khi cô cùng gia đình du lịch ở Trung Đông và vô tình bị cuốn vào chiến tranh tôn giáo giữa người Do Thái và Palestine, cũng vì lí do đó mà gia đình cô tất thảy đều qua đời. Minene bị lôi vào trò chơi Nhật ký sau khi ám sát thất bại một Đức Hồng Y, và gần như đã bị giết chết nếu không được Deus cứu, đổi lại cô phải tham gia vào trò chơi này. Nhật ký của cô là Nhật ký Trốn thoát (逃亡日記 Tōbō Nikki), cung cấp cho cô những cách thức trốn thoát khả thi nhất mỗi khi cô lâm vào tình thế hiểm nguy. Tức là cô có thể trốn thoát khỏi mọi thứ, tuy nhiên nhật ký chỉ cho cô biết cách để trốn thoát chứ không hề lường tới những tình huống ngoại lệ xảy ra.
  • Karyuudo Tsukishima (月 島 狩 人Tsukishima Karyūdo) (thứ mười) Lồng tiếng: Hirokazu Hiramatsu (Nhật), Mark Stoddard (Anh) Người sở hữu nhật ký thứ 10. Là một người đàn ông giàu có và lịch lãm, người yêu chó đến mức bỏ mặc cả gia đình, đến nỗi vợ ông phải bỏ đi. Nhật ký của ông là Nhật ký Chăn nuôi (飼育日記 Shiiku Nikki), thứ cho phép ông điều khiển đàn chó của mình tấn công người khác qua lệnh trên điện thoại.
  • John Bacchus (ジ ョ ン バ ッ ク スJon Bakkusu) (Mười Một)
  • Yomotsu Hirasaka (平 坂 黄泉Hirasaka Yomotsu) (Mười hai) Lồng tiếng: Yoshihisa Kawahara (Nhật), Ian Sinclair (Anh) Người sở hữu nhật ký thứ 12. Bị mù và hơi điên, anh ta là một cảnh vệ xử sự như một anh hùng đường phố (tựa tựa như Kamen Raider hoặc Super Sentai), mặc đồ bó và mang mặt nạ một mắt. Luôn miệng nói rằng mình chiến đấu vì “công lý”, trong khi đối với anh ta, công lý chỉ thuộc về những kẻ chiến thắng. Máy thu âm của anh ta chính là Nhật ký Công lý (正義日記 Seigi Nikki), cung cấp cho anh ta thông tin về những vụ việc sẽ xảy ra trong tương lai từ những vụ án giết người cho đến những việc nhỏ nhặt như xả rác bừa bãi. Hơn nữa, nhật ký của anh ta còn có thể thôi miên người khác bằng cách làm họ bị phân tâm.
  • Azami Kirisaki (霧 崎 あ ざ みKirisaki Azami) (mười ba) Lồng tiếng: Takaya Hashi (Nhật), Chris Smith (Anh) Người sở hữu nhật ký thứ 11 và là người được biết đến cuối cùng. Bacchus là thị trưởng thị trấn Sakurami và là người đã bảo Deus tạo ra trò chơi này để tìm người kế vị. Nhật ký của ông là Nhật ký Quan sát, cho phép ông đọc được tất cả những gì hiện lên trên các nhật ký tương lai khác, kể cả những nhật ký phụ.

Thần[sửa | sửa mã nguồn]

  • Deus Ex Machina (デウス エクス マキナ Deusu Ekusu Makina)

Lồng tiếng bởi:  Norio Wakamoto (tiếng Nhật); Kent Williams (tiếng Anh) 

  • Murumuru (ム ル ム ルMurumuru)

Lồng tiếng bởi: Manami Honda (tiếng Nhật); Leah Clark (tiếng Anh)

Các nhân vật khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Aru Akise (秋 瀬 或Akise Aru)

Lồng tiếng bởi: Akira Ishida (tiếng Nhật); Todd Haberkorn (tiếng Anh)

  • Masumi Nishijima (西 島 真澄Nishijima Masumi)
  • Ouji Kosaka (高 坂 王子Kōsaka Ōji)
  • Hinata Hino (日 野 日 向Hino Hinata)
  • Mao Nonosaka (野 々 坂 ま おNonosaka Mao)

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

"Mirai Nikki" được định kỳ trên Shōnen Ace (Kadokawa Shoten) từ năm 2006 đến 2010 và được tổng hợp thành 14 tập truyện, 12 thuộc cốt truyện chính và 2 ngoại truyện. Tính đến nay, "Mirai Nikki" đã bán được hơn 4 triệu bản tại Nhật Bản.[3]

Danh sách[sửa | sửa mã nguồn]

#Tiếng NhậtTiếng Anh
Ngày phát hànhISBNNgày phát hànhISBN
1 26 tháng 7 năm 2006ISBN 978-4-04-713839-112 tháng 5 năm 2009ISBN 978-1-4278-1557-6
2 26 tháng 10 năm 2006ISBN 978-4-04-713872-89 tháng 6 năm 2009ISBN 978-1-4278-1558-3
3 26 tháng 3 năm 2007ISBN 978-4-04-713912-19 tháng 9 năm 2009ISBN 978-1-4278-1559-0
4 26 tháng 10 năm 2007ISBN 978-4-04-713954-11 tháng 12 năm 2009ISBN 978-1-4278-1560-6
5 26 tháng 2 năm 2008ISBN 978-4-04-715026-32 tháng 3 năm 2010ISBN 978-1-4278-1561-3
6 26 tháng 6 năm 2008ISBN 978-4-04-715072-01 tháng 6 năm 2010ISBN 978-1-4278-1630-6
7 26 tháng 11 năm 2008ISBN 978-4-04-715130-731 tháng 8 năm 2010ISBN 978-1-4278-1751-8
Mosaic 26 tháng 11 năm 2008ISBN 978-4-04-715129-1
8 26 tháng 5 năm 2009ISBN 978-4-04-715248-92 tháng 11 năm 2010ISBN 978-1-4278-1761-7
9 26 tháng 11 năm 2009ISBN 978-4-04-715323-328 tháng 12 năm 2010ISBN 978-1-4278-0520-1
10 26 tháng 3 năm 2010ISBN 978-4-04-715400-112 tháng 4 năm 2011ISBN 978-1-4278-0521-8
Paradox 26 tháng 3 năm 2010ISBN 978-4-04-715412-4
11 9 tháng 9 năm 2010 (bản giới hạn)
25 tháng 12 năm 2010 (bản thường)
ISBN 978-4-04-900801-2
12 26 tháng 4 năm 2011ISBN 978-4-04-715679-1
Redial 26 tháng 7 năm 2013ISBN 978-4-04-120616-4

Tháng 12 năm 2012, Anime News Network đưa tin "Mirai Nikki" sẽ có một ngoại truyện phát hành vào tháng 7 năm 2013 mang tên "Mirai Nikki Redial". Tập truyện mới sẽ đính kèm một DVD anime mới nhất dài 25 phút.[3] Truyện bắt đầu được định kỳ trên Shōnen Ace số tháng 5 năm 2013.

Chuyển thể[sửa | sửa mã nguồn]

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

Một đoạn phim "pilot" (anime ngắn để thăm dò ý kiến) dài 8 phút đã xuất hiện trong DVD kèm theo phiên bản giới hạn của manga tập 11, phát hành ngày 9 tháng 12 năm 2010.[4]

Sau đó, manga chính thức được chuyển thể thành anime truyền hình bởi studio Asread và được đạo diễn bởi Hosoda Naoto, bắt đầu phát sóng từ ngày 10 tháng 10 năm 2011.[5] Cuối series, màn hình di động nhân vật hiện lên chữ "Khởi động Next Project" (Next Project 始動?) và thông tin chính về dự án đó sẽ được thông báo ở buổi hoà nhạc "Mirai Nikki The Live World" ngày 29 tháng 7 tại Nhật.[6]

Tập pilot sử dụng nhạc chủ đề là bài "The Creator" trình bày bởi Teihoku. Còn series sử dụng bốn bản nhạc chủ đề. 14 tập đầu nhạc mở đầu là "Kūsō Mythology" (空想メソロギヰ Kūsō Mesorogii?) hát bởi Teikoku Yōsei, và nhạc cuối phim là "Blood Teller" hát bởi Faylan. Từ tập 15 trở đi, bản nhạc mở đầu được đổi thành bài "Dead End" của Faylan, và nhạc kết thúc là bài "Filament" của Teihoku.[7]

Danh sách các tập[sửa | sửa mã nguồn]

Tập Tựa đề Ngày phát sóng
01 "Đăng ký"
"Sain Appu" (サインアップ) 
10 tháng 10 năm 2011[8]
02 "Điều kiện hợp đồng"
"Keiyaku Jōken" (契約条件) 
17 tháng 10 năm 2011[8][8]
03 "Dự đoán ban đầu"
"Shoki Furyō" (初期不良) 
24 tháng 10 năm 2011
04 "Đầu vào viết tay"
"Tegaki Nyūryoku" (手書き入力) 
31 tháng 10 năm 2011
05 "Memo giọng nói"
"Boisu Memo" (ボイスメモ) 
7 tháng 11 năm 2011
06 "Chế độ rung"
"Manā Mōdo" (マナーモード) 
14 tháng 11 năm 2011
07 "Tin nhắn lúc vắng"
"Rusu Ōtō" (留守応答) 
21 tháng 11 năm 2011
08 "Mẫu mới"
"Shin Kishu" (新機種) 
28 tháng 11 năm 2011
09 "Chặn cuộc gọi"
"Chakushin Kyohi" (着信拒否) 
5 tháng 12 năm 2011
10 "Gói cước gia đình"
"Kazoku Puran" (家族プラン) 
12 tháng 12 năm 2011
11 "Huỷ dịch vụ"
"Sābisu Shūryō" (サービス終了) 
19 tháng 12 năm 2011
12 "Không ngoại lệ"
"Jushin Kengai" (受信圏外) 
26 tháng 12 năm 2011
13 "Hạn chế cuộc gọi"
"Hitsūchi Settei" (非通知設定) 
9 tháng 1 năm 2012
14 "Xoá bộ nhớ"
"Memorī Shōkyo" (メモリー消去) 
16 tháng 1 năm 2012
15 "Kế hoạch cho cả hai"
"Daburu Horudā" (ダブルホルダー) 
23 tháng 1 năm 2012
16 "Sửa chữa"
"Shūri" (修理) 
30 tháng 1 năm 2012
17 "Giảm giá cho gia đình"
"Kazoku Wari" (家族割り) 
6 tháng 2 năm 2012
18 "Chen ngang"
"Konsen" (混線) 
13 tháng 2 năm 2012
19 "Xoá mọi tin nhắn"
"Zenken Sakujo" (全件削除) 
20 tháng 2 năm 2012
20 "Trao đổi dữ liệu"
"Dēta Tensō" (データ転送) 
27 tháng 2 năm 2012
21 "Mã số nhận diện"
"Anshō Bangō" (暗証番号) 
12 tháng 3 năm 2012
22 "Ngưng kết nối"
"Setsudan" (切断) 
19 tháng 3 năm 2012
23 "Lỗ hổng hợp đồng"
"Keiyaku Furikō" (契約不履行) 
26 tháng 3 năm 2012
24 "Khôi phục dữ liệu"
"Kensakuchū" (検索中) 
2 tháng 4 năm 2012
25 "Reset"
"Risetto" (リセット) 
9 tháng 4 năm 2012
26 "Khởi chạy"
"Shokika" (初期化) 
16 tháng 4 năm 2012

Visual Novel[sửa | sửa mã nguồn]

Kadokawa Shoten phát hành một visual novel dựa trên dành cho dòng máy Playstation Portable mang tên Nhật Ký Tương Lai: Người Sở Hữu Nhật Ký Thứ 13 (未来日記 -13人目の日記所有者 Mirai Nikki 13-nin-me no Nikki Shoyūsha?) vào ngày 28 tháng 1 năm 2010 tại Nhật. Sau đó, nó được tái bản với diễn viên lồng tiếng cho anime tham gia vào ngày 26 tháng 4 năm 2012.

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Từ 21 tháng 4 đến 30 tháng 6 năm 2011, Fuji TV cho chiếu loạt phim truyền hình dài 11 tập dựa trên manga với tựa đề Mirai Nikki - Another: World - (未来日記-ANOTHER:WORLD-?). Tuy có chung ý tưởng về nhật ký tương lai, cốt truyện và nhân vật của phim truyền hình hoàn toàn khác với manga.[9][10]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ TVアニメ「未来日記」オフィシャルサイト-スタッフ&キャスト [TV anime "Future Diary" Official site - Staff & Cast]. future-diary.tv (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2014. 
  2. ^ “Funimation Reveals High School DxD, Future Diary Dub Casts”. Anime News Network. 25 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2013. 
  3. ^ a ă “Mirai Nikki gets new Redial anime/manga”. Anime News Network. Ngày 21 tháng 12 năm 2012. 
  4. ^ Future Diary, Sora no Otoshimono Anime DVDs Listed”. Anime News Network. Ngày 23 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2010. 
  5. ^ Future Diary/Mirai Nikki TV Anime Confirmed for Fall”. Anime News Network. Ngày 21 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2011. 
  6. ^ "Mirai Nikki" "Next Project" Announced”. Crunchyrol. 
  7. ^ “Funimation to Simulcast Is This a Zombie? of the Dead, Jormungand Anime”. Truy cập 26 tháng 9 năm 2015. 
  8. ^ a ă â “未来日記” (bằng tiếng Nhật). Web Newtype. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2011. 
  9. ^ “Ayame Gōriki Stars in Live-Action Future Diary/Mirai Nikki. Anime News Network. Ngày 29 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2012. 
  10. ^ "Mirai Nikki" to be Adapted into Live Action Drama, Premieres in April”. Crunchyroll. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]