Ex Machina (phim)
Ex Machina
| |
|---|---|
Áp phích chiếu rạp của phim | |
| Đạo diễn | Alex Garland |
| Tác giả | Alex Garland |
| Sản xuất |
|
| Diễn viên | |
| Quay phim | Rob Hardy |
| Dựng phim | Mark Day |
| Âm nhạc | |
| Hãng sản xuất | |
| Phát hành |
|
Công chiếu |
|
Thời lượng | 108 phút |
| Quốc gia |
|
| Ngôn ngữ | Tiếng Anh |
| Kinh phí | 15 triệu USD |
| Doanh thu | 37,3 triệu USD |
Ex Machina là một bộ phim điện ảnh khoa học viễn tưởng của Anh ra mắt năm 2014 do Alex Garland đạo diễn kiêm tác giả kịch bản, đánh dấu lần đầu anh đảm nhiệm vai trò đạo diễn. Phim có sự tham gia của các diễn viên Domhnall Gleeson, Alicia Vikander và Oscar Isaac. Nội dung phim xoay quanh một lập trình viên được CEO của mình mời đến để thực hiện bài kiểm tra Turing trên một gynoid thông minh.
Ex Machina ra mắt tại BFI Southbank vào ngày 16 tháng 12 năm 2014. Phim được Universal Pictures International phát hành tại Anh vào ngày 21 tháng 1 năm 2015 và do A24 phát hành tại Mỹ vào ngày 10 tháng 4 năm 2015. Với kinh phí 15 triệu đô, phim đã thu về hơn 36,8 triệu đô Mỹ (USD) trên toàn thế giới.
Ex Machina nhận được nhiều lời khen ngợi về hiệu ứng hình ảnh, kịch bản và diễn xuất. Tại lễ trao giải Oscar lần thứ 88, phim giành giải Hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất và Garland được đề cử ở hạng mục Kịch bản gốc xuất sắc nhất. Phim cũng nhận được 5 đề cử tại giải BAFTA lần thứ 69, bao gồm Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất cho Vikander và Kịch bản gốc xuất sắc nhất cho Garland. Ngoài ra, Vikander cũng được đề cử Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất tại giải Quả cầu vàng lần thứ 73. Ex Machina thường xuyên được xếp vào danh sách những bộ phim xuất sắc nhất thập niên 2010.
Cốt truyện
[sửa | sửa mã nguồn]Caleb Smith (một lập trình viên làm việc tại công ty công cụ tìm kiếm Blue Book) trúng giải trong một cuộc thi nội bộ và được đến thăm ngôi nhà biệt lập sang trọng của CEO Nathan Bateman trong một tuần. Nathan sống ở đó cùng một người giúp việc tên Kyoko, – cô ấy không bao giờ nói và theo lời Nathan là cô không hiểu tiếng Anh.
Sau khi miễn cưỡng ký vào thỏa thuận bảo mật, Caleb được Nathan tiết lộ rằng ông đã chế tạo một robot dạng người tên Ava với trí tuệ nhân tạo. Ava đã vượt qua một bài kiểm tra Turing đơn giản và Nathan muốn Caleb đánh giá xem cô thực sự có khả năng tư duy và ý thức hay không, cũng như liệu anh có thể gắn bó với Ava dù biết cô chỉ là một cỗ máy.
Ava sở hữu thân hình robot nhưng có khuôn mặt và dáng vẻ của một người phụ nữ, song cô bị nhốt trong căn hộ của mình. Trong những cuộc trò chuyện, Caleb dần trở nên thân thiết với Ava, cô bày tỏ mong muốn được trải nghiệm thế giới bên ngoài và có tình cảm với anh và Caleb cũng bắt đầu đáp lại tình cảm ấy.
Ava có thể gây ra những đợt mất điện tạm thời, vô hiệu hóa hệ thống giám sát mà Nathan dùng để theo dõi họ, giúp cô và Caleb nói chuyện riêng tư. Tuy nhiên, mỗi lần mất điện cũng kích hoạt hệ thống an ninh, khóa tất cả các cửa. Trong một lần mất điện, Ava tiết lộ với Caleb rằng Nathan là kẻ dối trá và không thể tin tưởng.
Caleb ngày càng khó chịu trước thái độ tự cao, thói nghiện rượu và hành vi thô lỗ của Nathan đối với Kyoko và Ava. Anh phát hiện ra Nathan dự định nâng cấp Ava sau khi bài kiểm tra kết thúc, đồng nghĩa với việc xóa bỏ bộ nhớ của cô, "giết chết" nhân cách hiện tại của cô.
Sau khi khuyến khích Nathan uống say đến bất tỉnh, Caleb lấy trộm thẻ bảo mật của ông để truy cập vào phòng và máy tính. Anh thay đổi một số đoạn mã của Nathan và phát hiện những đoạn phim ghi lại cảnh Nathan tương tác với những robot nữ trước đó cũng bị giam giữ. Kyoko tiết lộ mình cũng là một android bằng cách lột da tay. Caleb sau đó còn rạch tay mình để kiểm tra xem liệu bản thân có phải là robot hay không.
Trong buổi gặp tiếp theo, Ava cắt điện. Caleb giải thích kế hoạch của Nathan và cô van nài anh giúp đỡ. Anh tiết lộ kế hoạch của mình: anh sẽ khiến Nathan say xỉn lần nữa và lập trình lại hệ thống an ninh. Khi Ava cắt điện, cả hai sẽ trốn thoát cùng nhau, nhốt Nathan lại. Sau đó, Ava lần đầu gặp Kyoko khi cô bước vào phòng cô.
Nathan tiết lộ với Caleb rằng ông đã theo dõi những cuộc trò chuyện "bí mật" của họ bằng camera an ninh chạy bằng pin. Ông nói rằng Ava chỉ giả vờ yêu Caleb và Caleb được chọn làm đối tượng thử nghiệm vì hồ sơ tâm lý của anh khiến anh dễ dàng giúp Ava trốn thoát. Nathan cho biết đây mới là bài kiểm tra thực sự, và việc Ava thao túng được Caleb chứng tỏ cô có ý thức thực sự.
Ngay sau đó, Ava lại cắt điện. Caleb tiết lộ rằng anh đã nghi ngờ Nathan theo dõi họ, nên khi Nathan bất tỉnh, anh đã thay đổi hệ thống an ninh để mở cửa khi mất điện thay vì khóa lại. Khi thấy Ava thoát khỏi phòng và tương tác với Kyoko trên camera, Nathan đánh gục Caleb và lao ra ngăn chặn hai robot.
Ava tấn công Nathan nhưng bị ông khống chế và chặt đứt cánh tay trái. Kyoko đâm Nathan từ phía sau. Nathan đánh vào mặt Kyoko, vô hiệu hóa cô, nhưng Ava tiếp tục đâm ông hai nhát nữa, giết chết Nathan. Ava tìm thấy Caleb và yêu cầu anh đợi trong khi cô sửa chữa bản thân bằng các bộ phận từ những android khác, dùng da nhân tạo để hoàn thiện ngoại hình như một người phụ nữ thực thụ.
Tuy nhiên, thay vì quay lại với Caleb, Ava rời đi bằng thẻ ID của Nathan, mở cửa kính an ninh và khóa Caleb bên trong. Cô lạnh lùng bỏ qua những lời van xin của anh, liếc nhìn thi thể Nathan và Kyoko một lần cuối trước khi rời khỏi khu phức hợp. Sau đó, cô trốn thoát ra thế giới bên ngoài bằng chiếc trực thăng vốn dành để đưa Caleb về nhà. Sau khi đến một thành phố, Ava hòa mình vào đám đông.
Diễn viên
[sửa | sửa mã nguồn]- Domhnall Gleeson trong vai Caleb Smith – một lập trình viên tại Blue Book.
- Oscar Isaac trong vai Nathan Bateman – CEO của Blue Book.
- Alicia Vikander trong vai Ava – một trí tuệ nhân tạo và robot hình người do Nathan tạo ra.
- Sonoya Mizuno trong vai Kyoko – người giúp việc của Nathan.
- Gana Bayarsaikhan trong vai Jade – một nguyên mẫu gynoid (robot nữ) trước đó.
- Corey Johnson trong vai Jay – phi công trực thăng.
- Claire Selby trong vai Lily – một nguyên mẫu gynoid trước đó.
- Symara Templeman trong vai Jasmine – một nguyên mẫu gynoid trước đó.
- Tiffany Pisani trong vai Katya
- Lina Alminas trong vai Amber
Sản xuất
[sửa | sửa mã nguồn]Nền tảng cho Ex Machina bắt đầu từ khi Alex Garland mới 11-12 tuổi, sau khi anh thực hiện một số thao tác lập trình cơ bản và thử nghiệm trên chiếc máy tính do bố mẹ mua tặng – đôi khi anh cảm giác như nó có tâm trí riêng.[1] Sau này, ý tưởng của anh hình thành từ những cuộc thảo luận kéo dài nhiều năm với một người bạn chuyên về khoa học thần kinh – người này luôn khẳng định rằng máy móc không bao giờ có ý thức. Để tự tìm câu trả lời, Garland bắt đầu đọc sách về chủ đề này. Trong giai đoạn tiền sản xuất của Dredd, khi đọc cuốn sách của Murray Shanahan bàn về ý thức và nhận thức, Garland có một "khoảnh khắc giác ngộ". Ý tưởng được ghi chép lại và tạm gác cho đến sau này.[2]
Shanahan (cùng với Adam Rutherford) trở thành cố vấn cho phim và mã ISBN cuốn sách của ông được đưa vào như một trứng phục sinh (easter egg).[3][4] Bên cạnh bài kiểm tra Turing, phim còn khảo chỉ đến thí nghiệm tưởng tượng căn phòng tiếng Trung Quốc và căn phòng Mary – một thí nghiệm triết học về một nhà khoa học nghiên cứu màu sắc nhưng chưa bao giờ thực sự trải nghiệm nó.[5] Các nguồn cảm hứng khác đến từ những bộ phim như 2001: A Space Odyssey, Altered States, cùng các tác phẩm của Ludwig Wittgenstein, Ray Kurzweil và nhiều người khác.[6] Phim còn chịu ảnh hưởng từ vở kịch Giông tố của William Shakespeare.[7] Để có tự do sáng tạo tuyệt đối mà không phải thêm vào những cảnh hành động thông thường, Garland quyết định thực hiện bộ phim với ngân sách thấp nhất có thể.[8]
Ghi hình
[sửa | sửa mã nguồn]Giai đoạn ghi hình chính bắt đầu vào ngày 15 tháng 7 năm 2013[9] và kéo dài trong bốn tuần tại Pinewood Studios (Anh) cùng hai tuần tại khách sạn Juvet Landscape (Valldalen, Na Uy).[10] Phim được quay bằng công nghệ kỹ thuật số ở độ phân giải 4K.[11] 15.000 bóng đèn tungsten cỡ nhỏ được lắp đặt trong trường quay để tránh sử dụng ánh sáng huỳnh quang – vốn thường xuất hiện trong các phim khoa học viễn tưởng.[12]
Phim được thực hiện dưới dạng hành động thực, với mọi hiệu ứng được thêm vào trong hậu kỳ. Trong quá trình quay, không có công nghệ màn hình xanh hay ghi hình chuyển động nào được sử dụng.[13][14] Cơ thể robot của Ava được tạo ra bằng một bộ trang phục tỉ mỉ, làm từ polyurethane với bột kim loại phủ lên để tạo hiệu ứng lưới. Trên trang phục có các đường kẻ giúp công ty hiệu ứng hình ảnh DNeg dễ dàng loại bỏ một số phần trong hậu kỳ.[15] Để tạo các đặc điểm robot của Ava, các cảnh quay được thực hiện có và không có sự xuất hiện của Vikander, nhằm ghi lại hình nền phía sau. Những phần cần giữ lại, đặc biệt là tay và mặt của cô, được tách nền (rotoscoping), trong khi phần còn lại được xóa kỹ thuật số và khôi phục nền. Diễn xuất của Vikander được chuyển thành chuyển động của robot CGI thông qua theo dõi camera và cơ thể. Tổng cộng có khoảng 800 cảnh hiệu ứng hình ảnh (VFX), trong đó gần 350 cảnh liên quan đến robot.[16][17] Các hiệu ứng hình ảnh khác bao gồm trang phục của Ava khi hiện qua những vùng trong suốt trên cơ thể, máu của Nathan sau khi bị đâm và cấu trúc bên trong của bộ não nhân tạo.[18][19][20]
Ngôi nhà nổi bật trong phim cũng từng xuất hiện trong chương trình "World's Most Extraordinary Homes" của BBC".[21]
Âm nhạc
[sửa | sửa mã nguồn]Nhạc nền cho Ex Machina được sáng tác bởi Ben Salisbury và Geoff Barrow – họ từng cộng tác với Garland trong Dredd (2012).[22] Album nhạc phim do Invada Records phát hành dưới các định dạng kỹ thuật số, LP và CD.[23] Một số ca khúc khác xuất hiện trong phim bao gồm:[24][a]
- "Enola Gay" của Orchestral Manoeuvres in the Dark
- "Get Down Saturday Night" của Oliver Cheatham
- "Husbands" của Savages
- "Bunsen Burner" của CUTS
- "Piano Sonata No 21 D. 960 in B-flat Major" do Franz Schubert sáng tác, thể hiện bởi Alfred Brendel
- "Unaccompanied Cello Suite No 1 in G Major BWV 1007 – Prelude", do J.S. Bach sáng tác, thể hiện bởi Yo-Yo Ma
Phát hành
[sửa | sửa mã nguồn]Universal Pictures phát hành Ex Machina tại Vương quốc Anh vào ngày 21 tháng 1 năm 2015,[25] sau buổi ra mắt tại BFI Southbank vào ngày 16 tháng 12 năm 2014, nằm trong mùa phim Sci-Fi: Days of Fear and Wonder của BFI.[26]
Tuy nhiên, Universal và hãng phim Focus Features từ chối phát hành phim tại Hoa Kỳ, nên A24 đã đồng ý phân phối phiên bản tại thị trường này.[27] Phim được chiếu tại liên hoan phim South by Southwest vào ngày 14 tháng 3 năm 2015 trước khi được A24 chọn ra mắt rạp tại Mỹ vào ngày 10 tháng 4 năm 2015.[28][29] Trong suốt liên hoan phim, một tài khoản Tinder của nhân vật Ava (sử dụng hình ảnh của Alicia Vikander) đã được kết nối với các người dùng khác, trong đó một cuộc trò chuyện bằng tin nhắn đã dẫn người dùng đến tài khoản Instagram quảng bá cho phim.[30]
Đón nhận
[sửa | sửa mã nguồn]Đánh giá chuyên môn
[sửa | sửa mã nguồn]Trên trang web tổng hợp đánh giá Rotten Tomatoes, 92% trong số 289 bài phê bình được xác định là tích cực, với điểm trung bình là 8,2/10. Nhìn chung các nhà bình luận đều đồng thuận ở nội dung: "Ex Machina tập trung vào ý tưởng hơn là hiệu ứng, nhưng vẫn là một tác phẩm được trau chuốt về mặt hình ảnh và là một bộ phim khoa học viễn tưởng thu hút hiếm có." Trang Metacritic sử dụng công thức bình quân gia quyền, đã chấm bộ phim số điểm 78/100 dựa trên 42 nhà phê bình, cho thấy "nhìn chung là thuận lợi".[31]
Anil Seth trên tạp chí New Scientist nhận định trong một bài đánh giá dài: "Hiếm có một bộ phim về khoa học nào mà lại không nhân nhượng về mặt trí tuệ... [Đây] là một tác phẩm giật gân tâm lý-công nghệ phong cách, tối giản và đầy trí tuệ, mang đến một luồng sinh khí mới cho dòng phim khoa học viễn tưởng thông minh". Bài đánh giá cũng gợi ý rằng chủ đề chính của phim là liệu "Ava có khiến một người có ý thức cảm thấy rằng bản thân cô ấy cũng có ý thức".[5] Daniel Dennett cho rằng bộ phim đã khám phá một cách xuất sắc nhất cho đến nay câu hỏi liệu một máy tính có thể tạo ra những năng lực đạo đức giống con người hay không và do đó có chủ đề tương tự như phim Her.[32] Azeem (một nhà bình luận về trí tuệ nhân tạo) nhận xét rằng dù bộ phim dường như kể về một robot muốn trở thành người, thực chất đó là một câu chuyện mang tính bi quan, tương đồng với cảnh báo của Nick Bostrom về việc kiểm soát một trí tuệ nhân tạo có khả năng lập chiến lược sẽ khó khăn thế nào và làm sao để biết nó sẽ làm gì khi được tự do.[33]
Nhà phê bình Manohla Dargis của The New York Times đã trao tặng phim danh hiệu "Lựa chọn của Nhà phê bình", mô tả đây là "một bộ phim thông minh, sắc sảo về đàn ông và những cỗ máy họ tạo ra".[34] Kenneth Turan (Los Angeles Times) cũng đề xuất phim qua nhận định: "Nhờ được tưởng tượng tinh tế và thực hiện thuyết phục, Ex Machina là một tác phẩm giả tưởng ám ảnh hoàn toàn có cơ sở, vừa mang những suy tư lớn vừa mang lại cảm giác giật gân kiểu pulp fiction."[35] Steven Rea (nhà phê bình phim điện ảnh của The Philadelphia Inquirer) chấm phim 4/4 sao và viết: "Isaac, Gleeson và Vikander tỏa sáng như những diễn viên sân khấu sống và thở cùng vai diễn suốt nhiều tháng trời, tạo nên sức hút khó cưỡng."[36]
Nhà phê bình Chris Tilly của IGN cho phim điểm 9/10 – mức "Đáng kinh ngạc" – và nhận xét: "Với ba diễn xuất chói sáng ở trung tâm, đây là một tác phẩm đạo diễn đầu tay ấn tượng của Alex Garland và là tác phẩm không thể bỏ qua với bất kỳ ai quan tâm đến hướng đi của công nghệ trong tương lai."[37]
Mike Scott (báo New Orleans Times-Picayune) nhận định: "Đây là chủ đề mà Mary Shelley đã đề cập trong Frankenstein từ năm 1818... Dù Ex Machina thay những đường khâu và bu-lông cổ bằng bánh răng và cáp quang, nó vẫn mang đậm hơi thở của cùng một câu chuyện".[38] Jaime Perales Contreras (Letras Libres) so sánh Ex Machina như một trải nghiệm gothic tương tự phiên bản hiện đại của Frankenstein: "Cả tiểu thuyết Frankenstein lẫn phim Ex Machina đều chia sẻ câu chuyện về một vị thần đầy sai sót trong cuộc chiến không ngừng với chính tạo vật của mình".[39] Tuy nhiên, Ignatiy Vishnevetsky (The A.V. Club) chỉ trích cách mà phim khoa học viễn tưởng này (gần cuối phim) đã "chệch hướng khỏi là một 'tác phẩm của ý tưởng' bằng một cú rẽ trái tùy tiện vào lãnh địa của những phim giật gân rẻ tiền". Ông cho rằng: "Dù kết thúc của Ex Machina không phải vô cớ [...], nó làm vỡ vụn nhiều điều đặc biệt của phim. Cho đến những cảnh cuối, Garland tạo ra và duy trì một bầu không khí tin cậy của sự bất an và suy đoán khoa học, được định nghĩa bởi thiết kế sản xuất theo mã màu [...] và dàn diễn viên nhỏ nhưng tài năng."[40] Steve Dalton (The Hollywood Reporter) nhận xét: "Câu chuyện kết thúc trong một sự vội vã lộn xộn, để lại nhiều câu hỏi chưa được giải đáp. Như một chiếc điện thoại thông minh cao cấp mới ra mắt, Ex Machina trông có vẻ ngầu và sành điệu, nhưng cuối cùng lại tỏ ra mỏng manh và thiếu sức mạnh. Dù vậy, với những người hâm mộ thể loại dystopian future-shock có thể nhìn xa hơn những lỗi thiết kế cơ bản, tác phẩm đầu tay của Garland vẫn hay như một tác phẩm khoa học viễn tưởng pulp hạng sang."[41]
Quỹ Hiệp hội Biên kịch Hoa Kỳ (Writers Guild Foundation) đã liệt kê kịch bản của phim là một trong những kịch bản xuất sắc nhất của điện ảnh và truyền hình thập niên 2010, với một biên kịch đánh giá cao cảnh Caleb và Nathan thảo luận về mẫu robot sau Ava như "một minh họa tuyệt vời cho việc khiến khán giả quan tâm đến những gì sắp xảy ra."[42]
Trên tạp chí Science Fiction Film and Television, nhà phê bình Nick Jones cho rằng: "Dù phim đặt phụ nữ ngang hàng với máy móc (như chính bài kiểm tra Turing gốc đã làm), Ex Machina làm điều này để phê phán sự đánh đồng đó và cách nó được văn hóa nam giới nuôi dưỡng, mà Nathan và Caleb là đại diện." Ông cũng xem phim là "một phản đề thú vị cho tác phẩm A.I. Artificial Intelligence của Steven Spielberg", dù có nhiều điểm tương đồng.[43]
Năm 2025, Ex Machina nằm trong số những phim được bình chọn cho danh sách "100 phim hay nhất thế kỷ 21" (phiên bản "Lựa chọn Độc giả") của The New York Times với vị trí thứ 142.[44]
Danh sách top 10
[sửa | sửa mã nguồn]Ex Machina được liệt kê nhiều danh sách top 10 phim của nhiều nhà phê bình.[45]
- Hạng 1 – Andrew Barker, Variety
- Hạng 2 – Bill Goodykoontz, Arizona Republic
- Hạng 3 – Christy Lemire, RogerEbert.com
- Hạng 3 – Lindsey Bahr, Associated Press
- Hạng 3 – Borys Kit, The Hollywood Reporter
- Hạng 4 – Mark Olsen, Los Angeles Times
- Hạng 5 – Ann Hornaday, The Washington Post
- Hạng 5 – Adam Chitwood, Collider.com
- Hạng 5 – Richard Lawson, Vanity Fair
- Hạng 6 – Drew McWeeney, HitFix
- Hạng 6 – Kate Erbland, IndieWire
- Hạng 6 – Chuck Wilson, Village Voice
- Hạng 7 – Ben Travers, IndieWire
- Hạng 7 – Marlow Stern, The Daily Beast
- Hạng 7 – Sara Stewart, New York Post
- Hạng 7 – Alonso Duralde, TheWrap
- Hạng 8 – Jesse Hassenger, A.V. Club
- Hạng 8 – Alison Willmore, BuzzFeed
- Hạng 8 – Peter Rainer, Christian Science Monitor
- Hạng 9 – Matthew Jacobs, Huffington Post
- Hạng 10 – Matt Singer, ScreenCrush
- Hạng 10 – Stephanie Zacharek, Time Magazine
- Hạng 10 – Matt Zoller Seitz, RogerEbert.com
- Top 10 (thứ tự bảng chữ cái) – Steven Rea, Philadelphia Inquirer
- Top 10 (thứ tự bảng chữ cái) – Joe Morgenstern, The Wall Street Journal
Giải thưởng
[sửa | sửa mã nguồn]Tại lễ trao giải Oscar lần thứ 88, Ex Machina đã nhận được đề cử cho kịch bản gốc xuất sắc nhất và giành chiến thắng ở hạng mục hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất.[46] Ngoài ra, phim còn được đề cử ở năm hạng mục tại giải BAFTA,[47] ba hạng mục tại Giải Lựa chọn của giới phê bình điện ảnh (trong đó giành chiến thắng một giải)[48] và một đề cử Quả cầu vàng.[49]
Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Bài hát chủ đề từ bộ phim Ghostbusters được liệt kê trong phần credit cuối phim với dòng ghi công: "lời và nhạc bởi Ray Erskine Publishing Limited", mặc dù chỉ có điệp khúc của ca khúc được nhân vật Nathan ngâm nga.
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "'Ex Machina' director: Selling small films takes work". eastfieldnews.com. ngày 21 tháng 5 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2015.
- ↑ "Why are we obsessed with robots?". The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2017.
- ↑ "Ex Machina buried this insanely cool easter egg deep in its source code (literally)". Blastr. Syfy. ngày 20 tháng 5 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
- ↑ "Alex Garland's Ex Machina: can a film about an attractive robot be feminist science fiction?". New Statesman. ngày 22 tháng 1 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
- 1 2 Seth, Anil. "Ex Machina: Quest to create an AI takes no prisoners". New Scientist. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2018.
- ↑ Matt Patches (ngày 25 tháng 4 năm 2015). "Ex Machina A.I. Inspirations – Alex Garland on Robots, Google, and Immortality". Esquire. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015.
- ↑ Kelly, Alan (ngày 7 tháng 9 năm 2022). "From 'The Matrix' to 'Ex Machina': Best Sci-Fi Movies About AI". Collider (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "Exclusive: Ex Machina writer/director Alex Garland on 'small' sci-fi films, sentient machines and going mainstream". Blastr. ngày 28 tháng 4 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2015.
- ↑ "Alex Garland's Ex Machina starts shooting at Pinewood Studios". Pinewood Group. ngày 9 tháng 8 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2016.
- ↑ "Alex Garland on Building Ex Machina's Perfect Woman". The Credits. ngày 17 tháng 4 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015.
- ↑ "Definition Magazine – Def Mag – Ex-Machina, the DIT Story". definitionmagazine.com. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
- ↑ "Intelligent Artifice: Alex Garland's Smart, Stylish Ex Machina". MovieMaker Magazine. ngày 9 tháng 4 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2020.
- ↑ Hankins, Brent (ngày 15 tháng 4 năm 2015). "'Ex Machina' Interview: Alex Garland on the True Role of a Director". The Lamplight Review (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "Low budget, small workforce, no green screen or mo-cap yet how did 'Ex Machina' win the Oscar?" (bằng tiếng Anh). Animation Xpress. ngày 31 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "Sammy Sheldon Differ – Ant-Man". ICG Magazine. ngày 24 tháng 7 năm 2015.
Every person who has asked about the robot costume assumed it was a blue screen suit, but we actually made that.
- ↑ "Inside the Creation of a Beautiful Robot for 'Ex Machina'". c2meworld.com. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015.
- ↑ Bryan Bishop (ngày 8 tháng 5 năm 2015). "More human than human: the making of Ex Machina's incredible robot". The Verge. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2017.
- ↑ Farrha Khan (ngày 26 tháng 2 năm 2016). "Why Ex Machina's visual effects will stun you in their simplicity". TechRadar.com. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2020.
- ↑ Hughes, Kat (ngày 29 tháng 5 năm 2015). "THN talk 'Ex Machina' with Dr Adam Rutherford and more". Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2016.
- ↑ "Brainstorming: Milk VFX & Ex Machina – Live for Films". Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2016.
- ↑ "The World's Most Extraordinary Homes". BBC. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "Invada UK To Release 'Ex-Machina' Soundtrack". ngày 30 tháng 10 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2014.
- ↑ "'Ex Machina' Soundtrack Released". Film Music Reporter. ngày 21 tháng 1 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2015.
- ↑ "Ex Machina (2015)". Soundtrack.Net. Autotelics, LLC. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Turner, Peter (ngày 21 tháng 1 năm 2015). "Alex Garland | Ex Machina". Starburst. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2015.
- ↑ "December 2014 at BFI Southbank" (PDF). British Film Institute. ngày 29 tháng 10 năm 2014. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2017.
- ↑ "Focus Features Shake-Up: What's Behind Peter Schlessel's Abrupt Exit". The Hollywood Reporter. ngày 9 tháng 2 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2020.
- ↑ "Ex Machina – SXSW 2015 Event Schedule". South by Southwest. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2015.
- ↑ "Ex Machina Acquired By A24 For April 2015 Release". ngày 30 tháng 10 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2014.
- ↑ "Tinder Users at SXSW Are Falling for This Woman, but She's Not What She Appears". Adweek. ngày 15 tháng 3 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2015.
- ↑ "Ex Machina". Metacritic. Fandom, Inc. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2023.
- ↑ From Bacteria to Bach and Back The Evolution of Minds, Daniel C. Dennett 2017 Penguin P399 [thiếu ISBN]
- ↑ azeem (ngày 26 tháng 4 năm 2015). "Rethinking Ex Machina". Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2018.
- ↑ Dargis, Manohla (ngày 9 tháng 4 năm 2015). "Review: In 'Ex Machina,' a Mogul Fashions the Droid of His Dreams". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Turan, Kenneth (ngày 9 tháng 4 năm 2015). "Unnerving consideration of artificial intelligence in 'Ex Machina'". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Rea, Steven (ngày 24 tháng 4 năm 2015). "'Ex Machina': Sentient robot casts a hypnotic spell". The Philadelphia Inquirer. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Chris Tilly (ngày 15 tháng 1 năm 2015). "Ex Machina Review". IGN. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2015.
- ↑ Scott, Mike (ngày 22 tháng 4 năm 2015). "'Ex Machina' movie review: Fetching sci-fi drama entertains, but its beauty is only skin-deep". New Orleans Times-Picayune. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2015.
- ↑ Jaime Perales Contreras. "Ex Machina o el moderno Frankenstein" (bằng tiếng Tây Ban Nha). Letras Libres. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2015.
- ↑ Vishnevetsky, Ignatiy (ngày 9 tháng 4 năm 2015). "Ex Machina is smart sci-fi that loses its way". The A.V. Club. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2016.
- ↑ "Ex Machina: Film Review". The Hollywood Reporter. ngày 16 tháng 1 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2015.
- ↑ "10 out of '10s: Our Favorite Scripts of the Decade". The Writers Guild Foundation (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2021.
- ↑ Jones, Nick (2016). "Ex Machina". Science Fiction Film and Television. 9 (2). Liverpool University Press: 299–303. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2025 – qua Project MUSE.
- ↑ "Readers Choose Their Top Movies of the 21st Century". The New York Times. ngày 2 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Film Critic Top 10 Lists - Best Movies of 2015 - Metacritic". Metacritic. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2023.
- ↑ "Oscars: The Complete Winners List". The Hollywood Reporter. ngày 28 tháng 2 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2022.
- ↑ Ritman, Alex (ngày 14 tháng 2 năm 2016). "BAFTA Awards: Complete Winners List". The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Critics' Choice Awards: The Complete Winners List". The Hollywood Reporter. ngày 17 tháng 1 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Golden Globes: The Complete Winners List". The Hollywood Reporter. ngày 10 tháng 1 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2023.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Phim năm 2014
- Phim IMAX
- Phim giành giải Oscar cho hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất
- Phim quay tại Na Uy
- Phim quay tại Luân Đôn
- Phim quay tại Pinewood Studios
- Phim về tin học
- Phim về trí tuệ nhân tạo
- Phim hãng Film4 Productions
- Phim của Universal Pictures
- Phim độc lập của Vương quốc Liên hiệp Anh
- Phim độc lập Mỹ
- Phim tiếng Anh thập niên 2010